vanban.org

Bản án 477/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 23/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Trả hồ sơ vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 40/2018/TLST-HS ngày 08 tháng 02 năm 2018 đối với bị cáo Trần Văn Phú (Tên gọi khác: Hiền); Sinh năm 1989;

Bị truy tố về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999. Cho Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Trả hồ sơ vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 40/2018/TLST-HS ngày 08 tháng 02 năm 2018 đối với bị cáo Trần Văn Phú (Tên gọi khác: Hiền); Sinh năm 1989;
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tuyên; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ B
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 477/2021/HS-ST
Ngày: 23/11/2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B

TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Nhàn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Công Hiệp – Liên đoàn Lao động thành phố B.

Ông Trần Văn Chánh – Cán bộ hưu trí.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung – Thư ký Tòa

án nhân dân Thành phố B.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP.B, tỉnh Đồng Nai tham

gia phiên tòa: Ông Hà Quốc Hùng – Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 377/2021/HSST ngày 24/6/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 380/2021/QĐXXST-HS ngày 09/7/2021; Thông báo mở lại phiên tòa hình sử sơ thẩm số 1126/TB-TA ngày 01 tháng 11 năm 2021 xét xử đối với bị cáo:

Họ và tên: Đào Phƣơng T, sinh năm 1980 tại Đồng Nai.

Tên gọi khác: Không.

Giới tính: Nam.

Nơi cư trú: 162/6B, khu phố 1, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Quốc tịch: Việt Nam

- Dân tộc: Kinh

Tôn giáo: Phật giáo.

Trình độ học vấn: Lớp 12/12. - Nghề nghiệp: Không.

Họ tên cha: Đào Minh T, sinh năm 1947 (còn sống).

Họ tên mẹ: Trương Thị Mai P, sinh năm 1949 (còn sống).

Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ hai.

Họ tên vợ: Tiêu Thị Thanh T, sinh năm 1980 (đã ly hôn) và có 01 con sinh 2001.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt quả tang và tạm giữ từ ngày 16/3/2021, chuyển tạm giam theo Lệnh số 452 ngày 23/3/2021. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B.

(Bị cáo có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đào Phương T là người sử dụng trái phép chất ma túy. Khoảng 11 giờ ngày 15/3/2021, T một mình đi xe buýt đến khu vực Khu Công nghệ cao, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh gặp và mua của người đàn ông tên Nhóc (không rõ lai lịch) 01 gói ma túy loại heroin và 03 đoạn ống hút nhựa chứa ma túy tổng hợp (tép) với giá 1.300.000đ (Một triệu ba trăm nghìn đồng). Sau khi mua, T đem số ma túy trên về thành phố B, sử dụng hết 01 gói ma túy loại heroin, còn 03 tép ma túy tổng hợp T chia ra thành 06 tép nhỏ và lấy 01 tép ra sử dụng, còn 05 tép T cất giấu để sử dụng dần.

Đến 08 giờ 30 phút ngày 16/3/2021, T cất giấu 05 tép ma túy tổng hợp dưới yên xe mô tô biển số 60F1-179.49 và điểu khiển xe mô tô đi đến trước khu vực Cơ sở uống methadone số 1, thuộc khu phố 3, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thì bị Công an phường T phát hiện, bắt quả tang cùng tang vật.

Vật chứng thu giữ:

- 05 đoạn ống hút nhựa được hàn kín hai đầu (tép), bên trong có chứa tinh thể màu trắng (đã được niêm phong) thu giữ dưới yên xe mô tô 60F1-179.49.

- 01 xe mô tô hiệu Airblade biển số 60F1-179.49, số khung: 4600DY067769, số máy: JF46E0067805.

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6S màu bạc, số thuê bao 0348311080 số Imei 355697070728179; 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7 màu đen, số thuê bao 0937413261, số Imei 357625082606362; 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, số Imei 353119112110052, không dùng vào việc phạm tội.

- Số tiền 2.400.000đ (Hai triệu bốn trăm nghìn đồng) là tiền cá nhân của T.

Tại Kết luận giám định số 516/KLGĐ-PC09 ngày 18/3/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai đã kết luận:

“Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,14982 gam loại Methamphetamine”.

Tại bản cáo trạng số 385/CT-VKSBH ngày 16/6/2021, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố B đã truy tố bị cáo Đào Phương T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa ngày hôm nay, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 để xử phạt bị cáo Đào Phương T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với mức án từ 16 tháng tù giam đến 18 tháng tù giam.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

-Về thủ tục tố tụng: Bị cáo Đào Phương T có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy sự vắng mặt của bị cáo không trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử xử vắng mặt bị cáo theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 290 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Căn cứ vào chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, bản tự khai và biên bản lấy lời khai bị cáo Đào Phương T đã khai nhận: Vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 16/3/2021, tại trước khu vực Cơ sở uống thuốc methadone số 1 thuộc khu phố 3, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, bị cáo T đang thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,14982gam ma túy, loại Methamphetamine thì bị Công an phường T phát hiện bắt quả tang.

Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Đào Phương T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân thành phố B đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, mà còn làm mất trật tự trị an xã hội tại địa phương, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, góp phần làm gia tăng tệ nạn xã hội, ảnh hưởng xấu đến đời sống cộng đồng. Vì vậy, cần phải có hình phạt nghiêm để cải tạo, giáo dục bị cáo và có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.

Về các tình tiết tăng nặng: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự. Đây là những tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về phần xử lý vật chứng:

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tuyên:

- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ lượng ma túy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B thu giữ sau giám định.

- Trả lại cho bị cáo Đào Phương T: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6S màu bạc, số thuê bao 0348311080 số Imei 355697070728179; 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7 màu đen, số thuê bao 0937413261, số Imei 357625082606362; 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, số Imei 353119112110052 do không dùng vào việc phạm tội

- Tiếp tục tạm giữ số tiền 2.400.000đ (Hai triệu bốn trăm nghìn đồng) của Đào Phương T để đảm bảo thi hành án.

- 01 xe mô tô hiệu Airblade biển số 60F1-179.49, số khung: 4600DY067769, số máy: JF46E0067805 là tài sản của chị Trương Thị Mai P (mẹ T), chị P không biết việc T mượn xe mô tô để thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Cơ quan điều tra đã giao trả xe mô tô nêu trên cho chị P là phù hợp.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội buộc bị cáo Đào Phương T phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Đối với đối tượng tên Nhóc (chưa rõ lai lịch) có hành vi bán ma túy cho bị cáo Đào Phương T, Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh, xử lý sau.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

Tuyên bố bị cáo Đào Phương T phaïm toäi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xöû phaït: Bị cáo Đào Phương T: 01 (Một) năm tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 16/03/2021.

Biện pháp tư pháp:

+ Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong số 516/KLGĐ - PC09 ngày 18 tháng 03 năm 2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai - là số lượng ma túy còn lại sau giám định.

+ Trả lại cho Đào Phương T:

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6S màu bạc, số thuê bao 0348311080 số Imei 355697070728179; 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7 màu đen, số thuê bao 0937413261, số Imei 357625082606362; 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, số Imei 353119112110052 do không dùng vào việc phạm tội.

+ Tiếp tục tạm giữ số tiền 2.400.000đ (Hai triệu bốn trăm nghìn đồng) của bị cáo Đào Phương T để đảm bảo thi hành án.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 01-07-2021 và Biên lai thu tiền số 03142 ngày 29-06-2021 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố B).

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Buộc bị cáo Đào Phương T phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Đào Phương T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Tòa án tỉnh Đồng Nai (1);

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

- Viện kiểm sát nhân dân TP.B (2);

- Công an TP.B (2);

- Thi hành án hình sự (7);

- Bị cáo (4);

- Lưu hồ sơ vụ án (3).

Nguyễn Trần Nhàn Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Tòa án tỉnh Đồng Nai (1);

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

- Viện kiểm sát nhân dân TP.Biên Hòa (2);

- Công an TP.Biên Hòa (2);

- Thi hành án hình sự (7);

- Bị cáo (4);

- Lưu hồ sơ vụ án (3).

Nguyễn Trần Nhàn

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa Thiều Thị Phi Loan Nguyễn Thái Hòa

Nguyễn Trần Nhàn TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

–––––––––––––––

––––––––––––––––––––––––––––––––––––––

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi ….. giờ ….. ngày 23 tháng 11 năm 2021;

Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Nhàn

Các Hội thẩm nhân dân:Ông Trần Văn Chánh và ông Đinh Công Hiệp.

Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 377/2021/TLST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đào Phƣơng Tuấn, sinh năm 1980 tại Đồng Nai.

Tên gọi khác: Không.

Giới tính: Nam.

Nơi cư trú: 162/6B, khu phố 1, phường An Bình, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

Quốc tịch: Việt Nam

- Dân tộc: Kinh

Tôn giáo: Phật giáo.

Trình độ học vấn: Lớp 12/12. - Nghề nghiệp: Không.

Họ tên cha: Đào Minh Tuấn, sinh năm 1947 (còn sống).

Họ tên mẹ: Trương Thị Mai Phương, sinh năm 1949 (còn sống).

Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ hai.

Họ tên vợ: Tiêu Thị Thanh Tuyền, sinh năm 1980 (đã ly hôn) và có 01 con sinh 2001.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt quả tang và tạm giữ từ ngày 16/3/2021, chuyển tạm giam theo Lệnh số 452 ngày 23/3/2021. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Biên Hòa.

Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƢ SAU:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đào Phương Tuấn phaïm toäi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí.

2. Về điều luật áp dụng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí.

3. Về mức hình phạt: Xöû phaït bị cáo Đào Phương Tuấn: 01 năm tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 16/03/2021.

4. Về các vấn đề khác:

Biện pháp tư pháp:

+ Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong số 516/KLGĐ - PC09 ngày 18 tháng 03 năm 2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai - là số lượng ma túy còn lại sau giám định.

+ Trả lại cho Đào Phương Tuấn:

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6S màu bạc, số thuê bao 0348311080 số Imei 355697070728179; 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7 màu đen, số thuê bao 0937413261, số Imei 357625082606362; 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, số Imei 353119112110052 do không dùng vào việc phạm tội.

+ Tiếp tục tạm giữ số tiền 2.400.000đ (Hai triệu bốn trăm nghìn đồng) của bị cáo Đào Phương Tuấn để đảm bảo thi hành án.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 29-06-2021 và Biên lai thu tiền số 03142 ngày 29-06-2021 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa).

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Buộc bị cáo Đào Phương Tuấn phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Đào Phương Tuấn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí.

Nghị án kết thúc vào hồi …. giờ ….. phút cùng ngày.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa Thiều Thị Phi Loan Trần Văn Chánh

Đồng Thị Hồng TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

–––––––––––––––

–––––––––––––––––––––––––––––––––––––––– Số:11/2018/HSST-QĐ

Biên Hòa, ngày 12 tháng 3 năm 2018

QUYẾT ĐỊNH

TRẢ HỒ SƠ ĐỂ ĐIỀU TRA BỔ SUNG

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:(4)

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đồng Thị Hồng

Các Hội thẩm nhân dân:Ông Trần Văn Chánh và bà Nguyễn Thị Nhạn

Căn cứ Điều 280 và Điều 299 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ kết quả việc xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa;

Xét thấy:

- Tại phiên tòa, người bị hại Bùi Quốc Tuấn và người làm chứng Phạm quốc Cường đều khai khi quay lại hiện trường để gây án bị cáo không đi một mình mà đi cùng hai người khác trên 1 chiếc xe máy. Lời khai này mâu thuẫn với lời khai của bị cáo tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra. Mặt khác anh Tuấn và anh Cường cũng như bị cáo đều xác định quá trình điều tra chưa được đối chất với nhau.

- Chiếc xe bị cáo sử dụng làm phương tiên gây án bị cáo khai tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa là đã bán. Tuy nhiên, cơ quan điều tra chưa làm rõ thời điềm bán, khu vực bán và người mua cũng như khả năng thu hồi tài sản này cũng như biện pháp xử lý vật chứng. Lý do tại sao có sự chênh lệch lớn giữa giá bán và giá mua. Có hay không việc bị cáo cố ý tẩu tán tài sản. Do đó, cần trả hồ sơ để làm rõ.

QUYẾT ĐỊNH:

Trả hồ sơ vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 40/2018/TLST-HS ngày 08 tháng 02 năm 2018 đối với bị cáo Trần Văn Phú (Tên gọi khác: Hiền); Sinh năm 1989;

Bị truy tố về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999.

Cho Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa.

Để điều tra bổ sung những vấn đề sau đây:

1. Điều tra xác minh, cho đối chất giữa bị hại, những người làm chứng và bị cáo nhằm làm rõ trong vụ án có đồng phạm hay không?

2. Xác minh làm rõ cũng như có biện pháp xử lý cụ thể đối với chiếc xe mà bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội.

Cỡ chữ