- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Thị K - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm (điều 193 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của Ngô Thị K; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 476/2020/HS-PT Ngày: 22-9-2020 NHÂN DANH |
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà
Các Thẩm phán:
Ông Phan Thanh Nguyễn
Bà Nguyễn Huỳnh Mai Tâm Quyên
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Phạm Thị Trúc Đào - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Hoàn - Kiểm sát viên
Ngày 22 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 383/HSPT ngày 18/08/2020 đối với bị cáo Ngô Thị K do có kháng cáo của bị cáo Ngô Thị K đối với bản án hình sự sơ thẩm số 121/2020/HS-ST ngày 08/7/2020 của Tòa án nhân dân Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị cáo có kháng cáo: Ngô Thị K; Giới tính: Nữ; Sinh năm 1955; tại Nam Định; Thường trú: thôn Hương P, xã Yên N, huyện Ý Y, tỉnh Nam Định; Chỗ ở: 128/1A/1, tổ 55, khu phố X, phường An Phú Đ, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 03/12; Con ông Ngô Văn B và bà Trần Thị T; Có chồng (đã chết) và 01 con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ 30 phút, ngày 11/6/2019, tại đoạn đường TL15, khu phố 3C, phường Thạnh Lộc, Quận X, Tổ công tác Công an Quận X kết hợp Công an phường Thạnh Lộc kết hợp Đội Cảnh sát giao thông Quận X phát hiện xe mô tô biển số: 531P1-0079 do bị cáo Ngô Thị K điều khiển có biểu hiện nghi vấn, nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện trên xe có 14 gói bột ngọt nhãn hiệu Ajinomoto (gồm: 10 gói loại l00g và 04 gói loại 454g); 38 gói hạt nêm hiệu Knorr loại 175g; 10 chai dầu ăn hiệu Tường An COOKING OIL và 39 gói bột giặt hiệu OMO (gồm: 25 gói loại Comfort, 360g và 14 gói loại Comfort, 720g), nhưng không có hóa đơn chứng từ chứng minh nguồn gốc. Vì vậy, Tổ công tác đã lập hồ sơ ghi nhận sự việc và tạm giữ hàng hóa nêu trên để tiếp tục xác minh làm rõ. Qua làm việc ban đầu. Bị cáo K khai nhận toàn bộ số hàng hóa trên là hàng giả, được K tự sản xuất tại chỗ ở của mình là phòng trọ số 20, địa chỉ 128/1A/l, tổ 55, khu phố 3, phường An Phú Đông, Quận X, đang trên đường vận chuyển đi tiêu thụ thì bị Công an Quận X phát hiện kiểm tra và tạm giữ.
Mở rộng điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận X tiến hành lệnh khám xét khẩn cấp đối với chổ ở của K, là phòng trọ số 20. địa chỉ 128/1A/1, tổ 55, khu phố 3, phường An Phú Đông, Quận X, đã phát hiện và thu giữ thêm một số thành phẩm là hàng giả, gồm: 09 gói bột ngọt Ajinomoto, loại 400g; 12 gói loại l00g và 01 gói loại 1kg; 10 gói hạt nêm loại 175g; 31 chai dầu ăn hiệu Tường An COOKING OIL; 60 gói bột giặt OMO loại Comfort 360g và 05 gói loại Comfort 720g, cùng bao bì, dụng cụ sử dụng cho việc sản xuất các loại hàng giả trên.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận X, Ngô Thị K khai nhận số hàng hóa trên được K làm giả và tiêu thụ như sau:
Đối với sản phẩm hạt nêm hiệu Knorr (48 gói) và bột ngọt hiệu Ajinomoto (36 gói):
- Các vỏ bao bì, nguyên liệu bao gồm:
+ Vỏ bao bì mang nhãn hiệu Ajinomoto, K mua với giá lần lượt là 500đồng/cái loại l00g; 1.100đồng/cái loại 400g và loại 454g. Vỏ bao bì hạt nêm hiệu Knorr loại 175g thì mua với giá 1.780đồng/cái. Tất cả các bao bì này K mua của một người đàn ông tự xưng là Phú không rõ lai lịch mang đến nhà giao cho K.
+ Về nguyên liệu là bột ngọt xá bên ngoài bao có chữ nước ngoài và hình 02 con tôm, loại 25kg/bao, K mua với giá 850.000đồng/bao. Hạt nêm nguyên liệu là hạt nêm Việt loại 10kg/bao thì mua với giá 470.000 đồng. Loại hạt nêm và bột ngọt nguyên liệu này được lưu thông rộng rãi trên thị trường, được K mua ở các tiệm tạp hóa khu vực chợ Tam Bình, quận TĐ.
- Quy trình sản xuất: Đầu tiên, K dùng dao kim loại cắt miệng bao của bột ngọt xá cũng như bao hạt nêm Việt, rồi dùng đồ xúc tự chế (bằng nhựa) xúc vào các vỏ bao bì bột ngọt mang nhãn hiệu Ajinomoto hay hạt nêm Knorr đã chuẩn bị trước. Sau đó, cân đúng theo trọng lượng ghi bên ngoài vỏ bao bì, rồi sử dụng máy ép nhiệt hiệu Cường Phát, ép dính miệng bao lại là hoàn thành sản phẩm bột ngọt giả nhãn hiệu Ajinomoto hoặc hạt nêm hiệu Knorr. Giá sản phẩm giả bán ra thì tùy từng thời điểm, đối với hạt nêm thường bán với giá là 10.000đồng/gói; còn bột ngọt thì giá bán lần lượt là 55.000đồng/bịch/gói cho sản phẩm loại 100g, 22.000đồng/gói loại 400g và 25.000đồng/gói cho loại 454g.
Đối với sản phẩm dầu ăn hiệu Tường An COOKING OIL (41 chai):
- Các vỏ bao bì, nguyên liệu bao gồm: Tem mang nhãn hiệu Tường An COOKING OIL cùng chai nhựa 01 lít, có nắp kèm theo thì K cũng mua của người đàn ông chưa rõ lai lịch nêu trên, với giá là 2.500đồng/01 bộ (gồm chai và nắp chai kèm theo). Còn dầu ăn nguyên liệu thì K mua dầu ăn loại can (20lít/can) ở các tiệm tạp hóa ở khu vực phường Tam Bình, quận TĐ, với giá tiền là 470.000đồng/can/20lít. Trên can có nhãn dầu ăn Tường An Olita nhưng nguồn gốc cụ thể thì K không rõ.
- Quy trình sản xuất: Sau khi có đầy đủ nguyên, phụ liệu thì K bắt đầu thực hiện thao tác sang chiết dầu ăn nguyên liệu sang chai nhựa 01 lít đã chuẩn bị sẵn. Để việc sang chiết được thực hiện dễ dàng và không cho dầu ăn nguyên liệu chảy ra ngoài thì K có dùng thêm phễu nhựa để cho dầu ăn nguyên liệu chảy qua rồi mới vào chai nhựa loại 01 lít. Sau đó, lấy nắp chai đóng lại là hoàn thành sản phẩm dầu ăn giả nhãn hiệu Tường An COOKING OIL, loại 01 lít. Giá bán ra thì từng thời điểm nhưng thông thường giá bán dao động từ 25.000đồng/chai đến 28.000đồng/chai.
Đối với sản phẩm bột giặt hiệu OMO (104 gói):
- Vỏ bao bì nhãn hiệu OMO thì K cũng mua từ người đàn ông tên Phú nói trên, với giá lần lượt là 1.200đồng/cái loại 400g và comfort 360g; 1.500 đồng/cái loại 800g và comfort 720g loại. Còn bột giặt nguyên liệu là bột giặt NET loại 6kg/gói, được bán rộng rãi trên thị trường, thì K mua ở các tiệm tạp hóa gần nhà, với giá 90.000đồng/gói (một thùng giấy carton có chữ NET chứa 02 gói/6kg). Sau đó cũng dùng dao bằng kim loại cắt miệng bao của bột giặt NET, rồi cũng dùng đồ xúc tự chế bằng nhựa để bột giặt nguyên liệu vào các vỏ bao bì mang nhãn hiệu OMO các loại và cân đúng theo trọng lượng ghi trên vỏ bao bì, rồi dùng máy ép nhiệt liệu Cường Phát, ép dính miệng vỏ bao bì lại là hoàn thành một sản phẩm bột giặt giả nhãn hiệu OMO. Giá bán ra thì cũng từng thời điểm, loại 360gr comfort và 400gr thì bán với giá 12.000 đồng/gói; loại 720g comfort và 800gr thì dao động từ 20.000 đồng/gói đến 22.000 đồng/gói.
Sau khi làm sản xuất xong các sản phẩm giả nhãn hiệu nêu trên, K sử dụng xe máy biển số 53P1-0079 vận chuyển đến các khu công nghiệp ở Bình Dương để bán trực tiếp cho công nhân để kiếm lời. Quá trình sản xuất, buôn bán hàng giả nêu trên, được thực hiện từ đầu tháng 04/2019 đến ngày 11/06/2019 thì bị Công an Quận X phát hiện bắt giữ. Việc này do K tự ý thực hiện, không được chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép, vì K ở một mình nên việc làm này không ai biết và cũng không ai tham gia. Một tuần, K đi bán khoảng 03 ngày, do ban đầu phải bỏ tiền ra mua nguyên liệu, bao bì, dụng cụ... để làm hàng giả. Sản xuất được bao nhiêu thì đem đi bán bấy nhiêu, cho đến khi nào hết thì đi mua nguyên liệu và vỏ bao bì về tiếp tục thực hiện hành vi sản xuất hàng giả. Cũng vì ở một mình nên K không có theo dõi thu chi hằng ngày của việc đi bán nên không xác định được số tiền chính xác đã thu lợi từ sản xuất, buôn bán hàng giả nêu trên.
Qua xác minh nhãn hiệu bột ngọt Ajinomoto; dầu ăn Tường An COOKING OIL; hạt nêm Knorr và bột giặt OMO được Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh cung cấp các chủ thể quyền nhãn hiệu là Công ty Ajinomoto Việt Nam; Công ty CP Dầu thực vật Tường An và Công ty TNHH Unilever Việt Nam đã đăng ký bảo hộ nhãn hiệu cho sản phẩm bột ngọt, dầu ăn, hạt nêm và bột giặt đến nay vẫn còn hiệu lực. Đồng thời, các Công ty trên còn xác nhận toàn bộ tang vật thành phẩm mà Công an Quận X thu giữ của Ngô Thị K là hàng giả mạo, không phải là hàng hóa do Công ty sản xuất. Công ty cũng không có ủy quyền cho K sản xuất các sản phẩm trên.
Kết quả giám định chất lượng số 0111a/N3.19/TĐ; 0111b/N3.19/TĐ và 0111c/N3.19/TĐ ngày 07 tháng 10 năm 2019 của Trung tâm kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng đo lường chất lượng 3 - Tổng cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng, xác định: Sản phẩm hạt nêm Knorr (loại 175g), bột ngọt Ajinomoto (loại 100g, 400g, 454g và lkg) và dầu ăn Tường An Coolcing Oil (loại lít) thu giữ của Ngô Thị Khuyên có bao bì, ghi nhãn và thành phần chất lượng không đồng nhất với hàng thật do Công ty sản xuất. Trong đó, một số sản phẩm chỉ tiêu có mức độ chênh lệch so với hàng thật lên trên 70%. Về đánh giá mức độ an toàn thực phẩm của mẫu giám định đối với người sử dụng thì chưa đủ cơ sở để đánh giá do không có các thông tin liên quan đến nguồn gốc, điều kiện, quy trình sản xuất và liều lượng sử dụng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra điều tra Công an Quận X đã tiến hành trưng cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự để định giá đối với toàn bộ số tang vật thu giữ của Ngô Thị K. Tại Kết luận định giá tài sản 298/KLĐG, ngày 16 tháng 8 năm 2019, kết luận: Tổng giá trị thành phẩm thu giữ (gồm hạt nêm Knorr, dầu ăn Tường An Cooking Oil và bột ngọt Ajinomoto) có giá trị tương ứng hàng thật là 2.767.000 đồng. Cần đồng hồ hiệu “Nhơn Hòa” là 100.000 đồng, máy ép nhiệt hiệu Cường Phát có giá trị là 850.000 đồng và xe máy biển số 53P1-0079 có giá trị 2.200.000 đồng. về vỏ bao bì, vỏ thùng carton, dụng cụ khác.. .thì không đủ cơ sở để định giá.
Vật chứng vụ án:
- Hàng thành phẩm gồm: 48 gói hạt nêm hiệu Knorr loại 175g; 41 chai dầu ăn hiệu Tường An COOKING OIL loại 01 lít; 04 gói bột ngọt nhãn hiệu Ajinomoto loại 454g; 09 gói bột ngọt Ajinomoto loại 400g; 22 gói bột ngọt nhãn hiệu Ajinomoto loại 100g; 01 gói bột ngọt nhãn hiệu Ajinomoto loại lkg;
- Nguyên, phụ liệu: 40 cái bao bì mang nhãn hiệu Knorr loại 175g; 14 vỏ chai mang nhãn hiệu Tường An loại 01 lít không có nắp; 25 nắp chai bằng nhựa màu vàng; 01 cái vỏ can nhựa mang nhãn hiệu “Tường An Olita”, loại 20 lít; 30 cái bao bì mang nhàn hiệu Ajinomoto loại 100g; 100 cái bao bì mang nhãn hiệu Ajinomoto loại 454g; 30 cái bao bì mang nhãn hiệu Ajinomoto loại 400g; 01 bao bột ngọt mang hình 02 con tôm màu đỏ loại 25kg, chưa qua sử dụng; 01 bao bột ngọt mang hình 02 con tôm màu đỏ, loại 25 kg đã qua sử dụng còn lại 05 kg.
Công cụ khác: 01 cái cân nhãn hiệu Nhơn Hòa, loại 05 kg, đã qua sử dụng; 02 cái phễu bằng nhựa đã qua sử dụng; 01 cái xúc tự chế bằng nhựa đã qua sử dụng; 01 máy ép hiệu Cường Phát, đã qua sử dụng; Xe mô tô hiệu Honda, biển số 53P1-0079, số máy: 1691471, số khung: 1691401.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 121/2020/HS-ST ngày 08/7/2020 của Tòa án nhân dân Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Ngô Thị K phạm tội “Sản xuất buôn bán hàng giả là thực phẩm, phụ gia thực phẩm”.
Căn cứ khoản 1 Điều 193; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Ngô Thị K 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt chấp hành án.
Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định. Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 08/7/2020 bị cáo Ngô Thị K làm đơn kháng cáo với nội dung xin được giảm hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Ngô Thị K đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm đã xét xử, chỉ trình bày các tình tiết giảm nhẹ, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét cho bị cáo được hưởng án treo, lý do có hoàn cảnh khó khăn, sống một mình, tuổi đã cao và bản thân mang nhiều bệnh tật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh luận tội: Sau khi phân tích tính chất, mức độ cùng hành vi phạm tội của bị cáo, cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Từ đó, đã nhận định án sơ thẩm xét xử đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Xét kháng cáo của bị cáo K xin được hưởng án treo, Đại diện Viện Kiểm sát cấp phúc thẩm xét thấy; bị cáo có đơn xin xem xét hoàn cảnh khó khăn, là người có tuổi, hành vi phạm tội của bị cáo giản đơn, số lượng hàng giả bắt quả tang không nhiều, bị cáo chưa hưởng lợi nên không cần thiết cách ly bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Ngô Thị K 02 năm tù, nhưng cho hưởng án treo, đồng thời giao bị cáo về địa phương nơi cư trú giám sát giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
Tranh luận bổ sung bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo; không bên nào đưa ra những tình tiết mới cần phải tranh luận đối đáp thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh; Kiểm sát viên, Tòa án nhân dân Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh; Thẩm phán trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hình thức đơn kháng cáo của bị cáo, đã làm trong thời hạn luật định nên được Hội đồng xét xử cấp Phúc thẩm, chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã xét xử, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án, phù hợp kết luận giám định, đã có đủ cơ sở kết luận: Ngô Thị K đã có hành vi tự sản xuất, buôn bán hàng giả là thực phẩm, phụ gia thực phẩm bằng cách mua các loại vỏ bao bì mang nhãn hiệu bột ngọt Ajinomoto, bao bì hạt nêm hiệu Knorr, vỏ chai nhựa có dán sẵn tem nhãn hiệu Tường An COOKING OIL loại 01 lít; mua nguyên liệu là bột ngọt xá in hình hai con tôm loại 25kg/bao; hạt nêm Việt loại 10 kg/bao và dầu ăn loại 20 lít/ can, để mang về sản xuất bằng phương pháp đổ bột ngọt cũng như hạt nêm các loại nêu trên ra thau nhựa, rồi bỏ vào từng vỏ bao bì hiệu bột ngọt Ạinomoto, cân theo đúng trọng lượng ghi trên bao bì đồng thời dùng máy ép nhiệt, ép dính miệng bao lại; dầu ăn thì chiết vào các chai nhựa 01 lít hiệu Tường An COOKING. Sau khi ra thành phẩm thì K sử dụng xe máy biển số 53P1-0079 vận chuyển đến các khu công nghiệp ở Bình Dương bán kiếm lời.
Với hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Ngô Thị K về tội “Sản xuất buôn bán hàng giả là thực phẩm, phụ gia thực phẩm”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 193 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định pháp luật.
[3] Xét nội dung kháng cáo, xin được hưởng án treo của bị cáo Ngô Thị K, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm nhận định như sau: Bản án sơ thẩm đã xem xét, đánh giá toàn diện hành vi, hậu quả và áp dụng các tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, mức hình phạt mà Toà cấp sơ thẩm đã quyết định là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không đưa ra được tình tiết mới nào khác để làm căn cứ xem xét cho bị cáo được hưởng án treo. Đồng thời, Hội đồng xét xử cần nhận định thêm đối với tội phạm về hành vi sản xuất buôn bán hàng giả là thực phẩm, phụ gia thực phẩm ngày một gia tăng, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, ảnh hưởng đến sức khỏe, đến quyền lợi của người tiêu dùng, cũng như uy tín của các Công ty được đăng ký bảo hộ theo quy định pháp luật. Vì vậy, cần thiết phải xử lý nghiêm bị cáo trước pháp luật nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo.
Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; Không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[4] Ngoài ra, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm cần nhận định thêm về xác định tư cách tố tụng là bị hại trong vụ án: Đối với hành vi “ Sản xuất, buôn bán hàng giả là thực phẩm, phụ gia thực phẩm” của bị cáo trong trường hợp này, là hàng giả nhãn hiệu Knorr, Ajinomoto, OMO, dầu ăn Tường An Olita... của Công ty TNHH Quốc Tế Unilever Việt Nam và Công ty cổ phần dầu thực vật Tường An. Tuy nhiên, hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng, thiệt hại trực tiếp đến người tiêu dùng khi mua các sản phẩm này, nhưng chưa xác định được người mua hàng của bị cáo, nên chưa xác định người bị hại trong vụ án. Riêng đối với các nhãn hiệu hàng hoá Knorr, Ajinomoto, OMO, dầu ăn Tường An Olita...mà bị cáo làm giả. Do đại diện chủ sở hữu các nhãn hiệu có đăng ký nhãn hiệu tại Cục sở hữu trí tuệ tại Việt Nam và đơn vị được uỷ quyền tại Việt Nam (tham gia tố tụng với tư cách nguyên đơn dân sự nếu có yêu cầu), nhưng về phía đại diện theo uỷ quyền không có yêu cầu về việc bồi thường thiệt hại, nên việc xác định tư cách bị hại là Công ty TNHH Quốc Tế Unilever Việt Nam và Công ty cổ phần dầu thực vật Tường An mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định là chưa chính xác, cần xác định người tham gia tố tụng trong trường hợp cụ thể này đối với hai Công ty nêu trên là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Từ đó, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm rút kinh nghiệm đối với bản án sơ thẩm về nội dụng trên.
[5] Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của Ngô Thị K; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Căn cứ khoản 1 Điều 193; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Ngô Thị K 02 (Hai) năm tù, về tội “Sản xuất buôn bán hàng giả là thực phẩm, phụ gia thực phẩm”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt chấp hành án.
Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội buộc: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND TC; (1) - TAND cấp cao tại TP.HCM;; (1) - VKSND TP.HCM; (3) - VKSND Quận X; (1) - P.PC 53 - CATP; (1) - Bị cáo; (1) - Chi cục THA Quận X; (1) - TAND Quận X; (2) - Công an Quận X; (1) - Sở Tư pháp; (1) - UBND nơi bị cáo cư trú; (2) - Lưu: VT, THS, hồ sơ; (25) (4) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hà |