- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Văn V - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đ…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hà Văn V và sửa Quyết định của bản án sơ thẩm:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự Xử phạt; Điều 260 Bộ luật Hình sự Xử phạt; Điều 65 Bộ luật Hình sự Xử phạt
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 474/2021/HSPT Ngày: 29-6-2021 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Tâm
Các Thẩm phán: 1. Ông Nguyễn Đình Tiến
2. Bà Chử Phương Ngọc
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thanh Bình, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 348/2021/TLPT-HS ngày 22 tháng 4 năm 2021 đối với bị cáo Hà Văn V do có kháng cáo của bị cáo Hà Văn V đối với bản án hình sự sơ thẩm số 103/2021/HS-ST ngày 11/3/2021 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.
Bị cáo có kháng cáo:
Hà Văn V, sinh năm 1995.
ĐKHKTT và nơi cư trú: thôn B, xã L, huyện C, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn N và bà Hà Thị T (có bố dượng tên Hà C); vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không;
Danh chỉ bản số 000000582 lập ngày 12/11/2020 tại Công an huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.
Bị bắt, tạm giữ, tạm giam: Không; áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 17/10/2020; có mặt tại phiên tòa;
* Bị hại: Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1977 và chị Trần Thị H, sinh năm 1977; nơi cư trú: thôn T, xã H, huyện T, thành phố Hà Nội; vắng mặt tại phiên tòa;
* Người bào chữa cho bị cáo Hà Văn V: Bà Đinh Thị Phương Mai, Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố Hà Nội; có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hà Văn V có giấy phép lái xe hạng C hợp lệ. Ngày 01/4/2020, V ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH Thăng Long Ceramics Việt Nam làm nhân viên lái xe ô tô thuê cho Công ty.
Ngày 20/5/2020, V được công ty điều động dùng xe ô tô nhãn hiệu DOTHANH BKS: 29H-085.71 chở gạch ốp lát đi giao hàng tại huyện P, Hà Nội (đi cùng trên xe với V còn có anh Lương Việt T, sinh năm: 1996, HKTT: T, H, Hà Nội). Sau khi giao hàng xong, V điều khiển xe ô tô đi trên tuyến đường Quốc lộ 1A, hướng Thường Tín đi Văn Điển. Đến khoảng 11 giờ 45 phút cùng ngày, khi xe đi đến Km 15 + 700, đường Ngọc Hồi, thuộc địa phận xã Liên Ninh, Thanh Trì, Hà Nội. Lúc này, trời sáng, không mưa, mặt đường khô ráo, mật độ tham gia giao thông trung bình. V điều khiển cho xe ô tô đi với tốc độ khoảng 40 đến 50km/giờ và đi cách mép đường bên phải theo chiều đi khoảng 07 mét. V quan sát thấy phía trước hướng di chuyển của xe ô tô có 01 ổ gà; phía trước bên phải cạnh ổ gà có 02 xe ô tô đi cùng chiều nên V bật xi nhan trái, đồng thời cho xe giảm tốc độ xuống khoảng 40km/h và đánh lái sang bên trái để tránh ổ gà. Cùng lúc này, phía làn đường ngược chiều với xe của V điều khiển có 01 xe mô tô BKS: 29H5 - 4184 do anh Nguyễn Văn D (sinh năm: 1977, HKTT: H, T, Hà Nội) điều khiển sau xe chở chị Trần Thị H (sinh năm: 1977, HKTT: H, T, Hà Nội) cũng đang di chuyển theo hướng Văn Điển đi Thường Tín với tốc độ khoảng 40km/h đến 50km/h và đi cách mép đường bên phải theo chiều đường khoảng 03 đến 04 mét. Khi thấy xe ô tô do V điều khiển bật xi nhan trái, lấn sang phần đường đi của anh D. Lúc này, anh D không giảm tốc độ mà điều khiển xe mô tô đánh lái sang bên trái theo chiều đi của mình để tránh ô tô do V điều khiển đang lấn sang phần đường của anh D. Khi xe ô tô của V đi qua ổ gà, V liền bật xi nhan phải và tăng tốc độ xe lên khoảng 50km/h và đánh lái sang bên phải để đi về chiều đường của mình. Khi đầu xe ô tô của V bắt đầu hướng sang phải cùng lúc này anh D cũng đánh lái sang trái theo chiều đi của mình. Phát hiện anh D đánh lái, V đạp phanh cho xe giảm tốc độ nhưng do khoảng cách quá gần nên phần đầu xe ô tô phải do V điều khiển đã va chạm vào xe mô tô do anh D điều khiển làm anh D cùng chị H bị ngã ra đường và bị xe mô tô đổ nghiêng bên trái đè lên. Sau va chạm, V cho xe ô tô dừng lại và xuống xe thì thấy anh D, chị H bị thương nên V đã gọi xe taxi đưa anh D, chị H đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa Nông nghiệp I. Khi xảy ra va chạm, xe ô tô do V điều khiển và xe mô tô do anh D điều khiển hoàn toàn nằm ở chiều đường Văn Điển đi Thường Tín.
Cùng ngày, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám nghiệm hiện trường và tạm giữ của V 01 xe ô tô tải BKS: 29H - 085.71 và 01 giấy phép lái xe hạng C mang tên Hà Văn V cùng 01 thiết bị giám sát hành trình TG102LE. Tạm giữ của anh Nguyễn Văn D 01 xe mô tô BKS: 19H5 - 4184, số khung: 1046669; số máy 1046669.
Kết quả khám nghiệm hiện trường thể hiện:
Hiện trường xảy ra tai nạn giao thông là đường Ngọc Hồi được dải nhựa bằng phẳng, rộng 18,30 mét. Đường vào thôn Nhị Châu dải nhựa bằng phẳng rộng 8,10 mét. Ổ gà nằm trên đường Ngọc Hồi (kích thước 4,5x5 mét), đo từ tâm ổ gà vào mép đường bên phải đường Ngọc Hồi hướng đi Văn Điển là 6,00 mét và đo ngang về hướng Văn Điển đến mép bên phải đường vào Nhị Châu theo hướng Ngọc Hồi đi Nhị Châu là 2,00 mét. Điểm mốc là mép đường bên phải đường Nhị Châu, theo chiều đường Ngọc Hồi đi Nhị Châu. Mép đường chuẩn là mép đường nhựa bên phải đường Ngọc Hồi, theo chiều Thường Tín đi Văn Điển.
- Vết phanh đơn dài 5,00m nằm trên đường Ngọc Hồi đầu vết hướng Thường Tín, đo vào mép đường chuẩn là 10,00m, đồng thời đo ngang về hướng Thường Tín đến điểm mốc là 8,40m. Cuối vết là bánh trước bên phải xe ô tô BKS: 29H-08.571.
- Vết cầy dài 4,80m nằm trên đường Ngọc Hồi, đầu vết hướng Thường Tín, đo vào mép đường chuẩn là 10,10 m đồng thời đo ngang hướng Thường Tín đến đầu vết phanh là 1,10m. Cuối vết là bàn để chân phía trước bên trái xe mô tô.
- Xe ô tô BKS: 29H-08571 dừng trên đường Ngọc Hồi, đầu xe hướng Văn Điển, đo từ hình chiếu tâm trục bánh trước bên phải vào mép đường chuẩn là 9,20m đồng thời đo ngang về hướng Văn Điển đến tâm trục bánh trước xe mô tô là 0,70m. Đo từ hình chiếu tâm trục bánh sau bên phải vào mép đường chuẩn là 10,20m, đo ngang về hướng Thường Tín đến đầu vết cầy là 0,30m.
- Xe mô tô BKS: 29H-4184 nằm đổ nghiêng bên trái trên đường Ngọc Hồi, đầu xe hướng Thường Tín, đo từ hình chiếu tâm trục bánh trước vào mép đường chuẩn là 8,80m. Đo từ hình chiếu tâm trục bánh sau vào mép đường chuẩn là 9,20m.
- Đám nhựa vỡ và 02 mũ bảo hiểm KT trên diện (2,60x1,80) m nằm rải rác xung quanh đầu xe ô tô và bánh sau xe mô tô. Tập trung nhiều ở bánh sau xe mô tô.
- Đám máu kích thước (0,30x0,40)m nằm trên đường Ngọc Hồi, đo từ tâm đám máu vào mép đường chuẩn là 8,80m. Đo ngang về hướng Thường Tín đến tâm trục bánh sau xe mô tô là 1,80m.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Trì ra các Quyết định trưng cầu giám định dấu vết va chạm, cơ chế hình thành dấu vết va chạm trên các phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông, dữ liệu hành trình trên thiết bị giám sát hành trình thu giữ của Hà Văn V và thương tích của anh D, chị H.
Tại Bản kết luận giám định số: 4127/C09(P3) ngày 24 tháng 7 năm 2020 của Viện Khoa học Hình sự, Bộ Công an kết luận:
- Dấu vết trượt, mất sơn màu xanh, bám dính chất màu đen (dạng nhựa) ở mặt ngoài phía dưới ốp kim loại bên phải đầu xe ôtô biển số 29H-085.71 có chiều từ trước về sau từ trái sang phải phù hơp với dầu vết trượt xước, bám dính chất màu xanh (dang sơn), mất nhựa màu đen ở mặt ngoài đầu tay lái bên phải xe môtô biển số 29H5-4184. Dấu vết va chạm ở xe môtô tại vị trí này có chiều từ trước về sau.
- Dầu vết hắn, trượt xước, mất sơn màu xanh ở mặt ngoài phía dưới ốp kim loại bên phải đầu xe ôtô biển số 29H-085.71 có chiều từ trước về sau, từ trái sang phải, phù hợp với dấu vết trượt xước bám dính chất màu xanh (dạng sơn) ở mặt trước kim loại tay phanh bên phải xe môtô biển số 29H5-4184. Dấu vết va chạm ở xe môtô tại vị trí này có chiếu từ trước về sau.
- Dầu vết trượt xước mất sơn màu xanh, bám dính chất màu nâu (dạng sơn) và chất màu đen (dạng nhựa) ở mặt ngoài phía dưới ốp kim loại bên phải đầu xe ôtô biển số 29H-085.71 có chiều từ rước về sau, từ trái sang phải, phù hợp với dấu vết trượt xước, bám dính chất màu xanh (dạng sơn), mất sơn màu nâu và nhựa màu đen ở mặt ngoài ốp nhựa đèn xin đường trước bên phải xe môtô biển số 29H5-4184. Dấu vết va chạm ở xe môtô tại vị trí này có chiếu từ trước về sau.
- Dấu vết trượt xước mất sơn màu xanh, bám dính chất màu nâu (dạng sơn) ở mặt ngoài ốp kim loại bên phải đèn xin đường trước xe ôtô biển số 29H-085.71 có chiều từ trước về sau, từ trái sang phải (ảnh 13 trong bản ảnh giám định), phù hợp với dấu vết trượt xước, bám dính chất màu xanh (dạng sơn), mất sơn màu nâu ở mặt ngoài chắn bùn bánh trước xe môtô biển số 29H5-4184. Dấu vết va chạm ở xe môtô tại vị trí này có chiều từ trước về sau.
- Các dấu vết còn lại ở 02 phương tiện nêu trên được ghi nhận trong “Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông" hiện tại không đủ yếu tố giám định so sánh.
- Không xác định được điểm va chạm đầu tiên giữa xe ôtô biển số 29H-085.71 với xe môtô biển số 29H5-4184.
- Căn cứ vào hồ sơ vụ tai nạn giao thông gửi giám định: Không xác định được tốc độ của xe ôtô biển số 29H-085.71 và xe môtô biển số 29H5-4184 ngay trước khi xảy ra va chạm.
Tại bản kết luận giám định số 5267/C09-P6 ngày 04/11/2020 của Viện Khoa học Hình sự, Bộ Công an kết luận: Không tìm thấy dữ liệu hành trình trên thiết bị giám sát hành trình gửi giám định từ lúc 10 giờ 00 ngày 20/05/2020 đến 15 giờ 00 ngày 20/05/2020.
Tại Bản kết luận giám định pháp y số 503/TTPY ngày 12/6/2020 của Trung tâm Pháp y Sở Y tế Hà Nội kết luận thương tích của anh D như sau:
- Vết mổ vùng cằm lệch phải, vết mổ nội soi vùng rốn, hố chậu hai bên, vết mổ vùng ổ cối xương đùi bên phải: 08%;
- Gãy xương hàm dưới bên trái: 10%;
- Gãy xương đòn trái: 06%;
- Vỡ bàng quang trong phúc mạc đã phẫu thuật điểm vỡ: 26%;
- Vỡ ổ cối phải: 11%;
- Gãy ngành ngồi mu bên phải: 11%;
- Hiện chưa đánh giá được hết các di chứng và biến chứng của các tổn thương. Đề nghị giám định bổ sung sau khi bệnh nhân điều trị ổn định và ra viện.
Tỷ lệ tổn hại sức khỏe 54%. Tính theo phương pháp cộng lùi.
Tại Bản kết luận giám định pháp y số 493/TTPY ngày 12/6/2020 của Trung tâm Pháp y Sở Y tế Hà Nội kết luận thương tích của chị H như sau:
- Vết thương, vết mổ, vết dẫn lưu vùng hàm dưới bên phải, cẳng tay phải: 04%;
- Chấn thương sọ não gây tụ máu ngoài màng cứng, dưới màng cứng, chảy máu dưới nhện và tổn thương nhu mô não bán cầu hai bên: 34%;
- Gãy xương hàm dưới (02 ổ) đã kết hợp xương: 10%;
- Vỡ nền sọ (xương đá): 16%;
- Gãy các xương sườn III, V bên phải: 04%;
- Hiện chưa đánh giá được hết các di chứng và biến chứng của tổn thương. Đề nghị giám định bổ sung sau nếu có căn cứ.
Tỷ lệ tổn hại sức khỏe 59%. Tính theo phương pháp cộng lùi.
Tại Cơ quan điều tra, Hà Văn V khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai của V phù hợp với lời khai của anh Nguyễn Văn D, chị Trần Thị H và phù hợp với các tài liệu do Cơ quan điều tra thu thập được.
Đối với xe ô tô BKS: 29H-085.71 và 01 bộ giám sát hành trình trên xe ô tô 29H-085.71 thuộc sở hữu của Công ty Thăng Long nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Trì đã trao trả Công ty Thăng Long toàn bộ số đồ vật, tài sản nói trên. Đại diện Công ty TNHH Thăng Long đã nhận lại số đồ vật, tài sản trên, từ chối định giá thiệt hại và không có yêu cầu, đề nghị gì.
Đối với xe mô tô BKS: 29H5-4184, số khung: 1046669, số máy: 1046669, qua điều tra xác định anh Nguyễn Văn D mua chiếc xe mô tô trên vào khoảng năm 2010, khi mua có giấy tờ mua bán và đăng ký xe. Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng, anh D đã làm mất toàn bộ số giấy tờ liên quan đến chiếc xe trên. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Trì đã tiến hành xác minh chủ sở hữu, trưng cầu giám định số khung, số máy và tra cứu xe máy vật chứng. Kết quả: trên giấy đăng ký xe mô tô trên mang tên Vũ Thái H (địa chỉ: Tổ X, K, N, T). Qua xác minh hiện không có ai tên Vũ Thái H đang sinh sống tại địa chỉ trên. Tại bản kết luận giám định số 160 ngày 05/01/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội kết luận: Xe máy nhãn hiệu Honda Dream đeo BKS: 29H5-4184 gửi giám định, hiện tại có số khung: C100MS-1046669 và số máy: C100MSE-1046669 là số nguyên thủy. Kết quả tra cứu xe máy vật chứng thể hiện: Không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Anh Nguyễn Văn D có đơn xin lại tài sản trên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Trì đã trao trả chiếc xe trên cho anh Nguyễn Văn D. Anh D đã nhận lại xe, từ chối định giá thiệt hại và không có yêu cầu, đề nghị gì.
Về dân sự: Hà Văn V đã bồi thường số tiền viện phí và các chi phí khác cho gia đình anh D, chị H với số tiền là 200.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền bồi thường, anh D, chị H không có yêu cầu đề nghị gì và đã có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho V.
Nguyên nhân của vụ tai nạn giao thông nói trên là do Hà Văn V điều khiển xe ô tô không đi về phía bên phải theo chiều đi của mình vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ, là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến va chạm vào xe mô tô do anh D điều khiển chở theo chị H, gây hậu quả anh D bị tổn hại sức khỏe 54%, chị H bị tổn hại sức khỏe 59%. Tổng tỷ lệ tổn hại sức khỏe của anh D và chị H là 113%.
Anh Nguyễn Văn D cũng có một phần lỗi là điều khiển xe mô tô khi tránh xe đi ngược chiều đã không giảm tốc độ, không cho xe đi về phía bên phải theo chiều đi của mình, vi phạm khoản 1 Điều 17, Luật Giao thông đường bộ dẫn đến va chạm với xe ô tô do Hà Văn V điều khiển, gây tổn hại sức khỏe chị H với tỉ lệ tổn hại sức khỏe là 59%. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Trì đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với anh Nguyễn Văn D.
Tại bản Cáo trạng số 12/CT-VKS-TT ngày 21/01/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội truy tố Hà Văn V về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Bản án hình sự sơ thẩm số 103/2021/HS-ST ngày 11/3/2021 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội:
Tuyên bố bị cáo Hà Văn V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự
Xử phạt bị cáo Hà Văn V 12 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 25/3/2021, bị cáo Hà Văn V kháng cáo với nội dung xin được giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Hà Văn V thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, tỏ ra ăn năn hối cải, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất và cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội nhận định:
Về hình thức kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Hà Văn V trong thời hạn luật định, đúng về chủ thể, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về nội dung kháng cáo:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo Hà Văn V tại phiên tòa, có đủ cơ sở xác định: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Hà Văn V về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật; mức hình phạt 12 tháng tù là phù hợp.
Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ và có nơi cư trú rõ ràng nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Hà Văn V, sửa quyết định của bản án sơ thẩm. Cụ thể:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hà Văn V 12 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 24 tháng tính từ ngày tuyên án phúc phẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo Hà Văn V nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội về tội danh mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo. Về mức hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, bị cáo phạm tội lần đầu, nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bản thân bị cáo là người dân tộc thiểu số, bị cáo là lao động chính trong gia đình, hoàn cảnh gia đình của bị cáo khó khăn, là hộ cận nghèo; bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại; bị hại cũng có phần lỗi khi tham gia giao thông và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và có nơi cư trú rõ ràng, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Đơn kháng cáo của bị cáo Hà Văn V trong thời hạn luật định, đúng về chủ thể, được Hội đồng xét xử chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Căn cứ vào lời khai của bị cáo Hà Văn V, vật chứng thu được, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử phúc thẩm có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 11 giờ 45 phút ngày 20/5/2020 tại Km 15 + 700 đường Ngọc Hồi, thuộc địa phận thôn Yên Phú, xã Liên Ninh, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội, Hà Văn V điều khiển xe ô tô BKS: 29H-085.71 theo hướng từ Thường Tín đi Văn Điển nhưng không đi về phía bên phải theo chiều đi của mình (vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ), dẫn đến va chạm với xe mô tô BKS: 29H5 - 4184 do anh Nguyễn Văn D điều khiển sau xe chở chị Trần Thị H, gây tổn hại sức khỏe cho anh D là 54%, chị H là 59%. Tổng tỉ lệ tổn hại sức khỏe của anh D, chị H là 113%.
Anh Nguyễn Văn D cũng có một phần lỗi là điều khiển xe mô tô khi tránh xe đi ngược chiều đã không giảm tốc độ, không cho xe đi về phía bên phải theo chiều đi của mình (vi phạm khoản 1 Điều 17, Luật Giao thông đường bộ), dẫn đến va chạm với xe ô tô do Hà Văn V điều khiển. Tuy nhiên, lỗi chính dẫn đến vụ tai nạn giao thông gây tổn hại sức khỏe của anh D, chị H với tổng tỷ lệ tổn hại 113% là do bị cáo Hà Văn V gây ra.
Hành vi của bị cáo Hà Văn V đã cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” với tình tiết “Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%”. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Hà Văn V về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét nội dung kháng cáo của bị cáo Hà Văn V, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến an toàn công cộng, trật tự công cộng trong lĩnh vực giao thông đường bộ, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân khi tham gia giao thông đường bộ. Bản thân bị cáo có giấy phép lái xe nhưng không tuân thủ Luật Giao thông đường bộ, không đi về phía bên phải theo chiều đi của mình dẫn đến xảy ra va chạm với phương tiện khác, gây tỷ lệ tổn hại sức khỏe của anh D, chị H là 113%. Do đó, cần phải xử lý nghiêm bị cáo theo quy định của pháp luật để răn đe và phòng ngừa chung.
Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; đồng thời xác định bị cáo phạm tội lần đầu, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi gây tai nạn, bị cáo đã khẩn trương đưa người bị nạn đi cấp cứu, đã tự nguyện khắc phục hậu quả, bồi thường theo yêu cầu của gia đình người bị hại; gia đình bị hại đã có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo; bị hại cũng có một phần lỗi khi tham gia giao thông; bị cáo là người dân tộc thiểu số để cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Tại cấp phúc thẩm, bị cáo Hà Văn V không xuất trình tài liệu gì mới, tuy nhiên, xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và có nơi cư trú rõ ràng nên Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hà Văn V, cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và đấu tranh, phòng chống tội phạm.
Hội đồng xét xử sửa quyết định của bản án sơ thẩm nên bị cáo Hà Văn V không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự:
1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hà Văn V và sửa Quyết định của bản án sơ thẩm:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự
Xử phạt bị cáo Hà Văn V 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 24 tháng tính từ ngày tuyên án phúc phẩm.
Giao bị cáo Hà Văn V cho Ủy ban nhân dân xã Lục Dạ, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp bị cáo Hà Văn V thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Hà Văn V cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về án phí: áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Hà Văn V không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 29/6/2021.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Hà Nội; - Công an huyện Thanh Trì; - VKSND huyện Thanh Trì; - TAND huyện Thanh Trì; - THADS huyện Thanh Trì; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng khác; - Lưu Hồ sơ vụ án, V.Phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Thị Tâm |