vanban.org

Bản án 47 — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân gia đình"
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
!!!!TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

!!THÀNH!PHỐ!UÔNG!BÍ!

NAM!

!!!!TỈNH!QUẢNG!NINH!

Độc!lập!–!Tự!do!–!Hạnh!phúc! Bản án số: 47 /2020/HNGĐ-ST Ngày: 28 - 9 - 2020! V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”.

NHÂN!DANH

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!UÔNG!BÍ,!TỈNH!QUẢNG!NINH!

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:!

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thanh Thúy.

- Các Hội thẩm Tòa án nhân dân: 1. Ông Thái Quang Định

2. Bà Vũ Thị Xuyến

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trung Nghĩa - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Kiều Oanh - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 161/2020/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2020 về việc“Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2020/QĐXXST – HNGĐ ngày 07 tháng 9 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 36/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 9 năm 2020.

Nguyên!đơn: Chị!Nguyễn!Thị!Hồng!N,!sinh năm 1991.

Nơi cư trú: Tổ 02, khu H, phường Phương Nam, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Bị!đơn: Anh!Bùi!Văn!Ng, sinh năm 1990.

Nơi cư trú: Tổ 02, khu H, phường Phương Nam, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt (lần thứ 2 không có lý do).

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 01 tháng 6 năm 2020 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hồng N và anh Bùi Văn Ng, kết hôn 01/6/2015 tại Uỷ ban nhân dân phường Phương Nam, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh trên cơ sở hai bên cùng tự nguyện. Sau khi về chung sống một thời gian thì chị N và anh Ng thường xuyên mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh Ng mải chơi, không quan tâm đến gia đình. Mặc dù, chị N cũng nhiều lần nói chuyện với anh Ng để cùng giải quyết những khúc mắc nhưng anh Ng không thay đổi. Trước

1

đây chị N đã từng gửi đơn ly hôn ra Tòa nhưng sau đó lại rút đơn lại vì thời điểm đó anh Ng bị đi tù. Cho đến nay, sau khi anh Ng ra tù, tâm tính vẫn không cải sửa. Chị N thấy rằng mâu thuẫn giữa chị và anh Ng không thể khắc phục, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị N đề nghị được ly hôn với anh Ng.

Về nuôi con chung: Chị N và anh Ng có 02 con chung là cháu Bùi Khôi Nguyên, sinh ngày 21 tháng 8 năm 2013 và cháu Bùi Ng Diệp, sinh ngày 15 tháng 11 năm 2017. Chị N đề nghị được nuôi cháu Diệp và cháu Nguyên giao cho anh Ng nuôi dưỡng, cho đến khi cả hai cháu trưởng thành; không ai phải cấp dưỡng con chung.

Về tài sản chung: chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Qúa trình giải quyết vụ án, anh Ng đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh Ng không có ý kiến và cũng không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án để thể hiện quan điểm giải quyết vụ án của mình.

Tại biên bản xác minh ngày 30/6/2020, đại diện tổ dân khu phố nơi chị N và anh Ng sinh sống cho biết: Quá trình chung sống tại địa phương chị N và anh Ng đã xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Anh Ng đã từng phải chấp hành hình phạt tù về hành vi phạm pháp. Thời gian gần đây, anh Ng ra tù, vợ chồng cùng chung sống lại tiếp tục pháp sinh mâu thuẫn nên chị N đã nộp đơn xin ly hôn. Chị N và anh Ng có 02 con chung, cháu Diệp hiện đang ở với chị N ở nhà ngoại cũng ở phường Phương Nam, còn cháu Nguyên ở vẫn ở với bố và ông bà nội. Cả hai cháu vẫn được nuôi dưỡng, chăm sóc tốt. Việc chị N xin ly hôn, đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.

Tại biên bản lấy ý kiến của con chung đủ 07 tuổi, cháu Nguyên có nguyện vọng được ở với bố.

Tại!phiên!tòa:!

Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa có đơn xin xử vắng mặt và đề nghị được giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, quan điểm đã thể hiện trong quá trình giải quyết vụ án.

Bị đơn vắng mặt không lý do và không có ý kiến về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí phát biểu ý kiến:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký cũng như nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Qúa trình giải quyết vụ án bị đơn vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa bị đơn đã được triệu tập hợp lệ hai lần nhưng đều vắng mặt tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Xác định mâu thuẫn giữa chị Nguyễn Thị Hồng N và anh Bùi Văn Ng đã trầm trọng nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị N, cho chị N được ly hôn với anh Ng. Giao con chung cháu Bùi Khôi Nguyên cho anh Ng trực tiếp nuôi dưỡng và giao con chung cháu Bùi Ng Diệp trực tiếp nuôi dưỡng, cho đến khi hai con chung trưởng thành. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

2

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TOÀ!ÁN:!

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến của các đương sự, đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]!Về!thủ!tục!tố!tụng:!

Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng N khởi kiện vụ án dân sự “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn” với bị đơn anh Bùi Văn Ng, có địa chỉ tại thành phố Uông Bí nên Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí có thẩm quyền giải quyết theo quy định khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc đương sự vắng mặt tại phiên tòa: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng N có đơn xin xử vắng mặt. Bị đơn anh Bùi Văn Ng đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định. !

[2]!!Về!nội!dung!cần!giải!quyết!của!vụ!án:!

[2.1] Về quan hệ hôn nhân:!Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng N và bị đơn anh Bùi Văn Ng là vợ chồng hợp pháp, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường Phương Nam, thành phố Uông Bí trên cơ sở hai bên cùng tự nguyện. Căn cứ kết quả xác minh tình trạng hôn nhân của nguyên đơn và bị đơn, thấy rằng lời khai của nguyên đơn là có cơ sở. Mâu thuẫn giữa vợ chồng chị N và anh Ng đã kéo dài, nguyên nhân là do anh Ng mải chơi, không tu chí làm ăn, không có trách nhiệm với gia đình. Mặc dù, chị N đã động viên, khuyên nhủ nhưng anh Ng vẫn không thay đổi. Quá trình giải quyết vụ án, anh Ng đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tố tụng nhưng anh Ng không có bất cứ ý kiến phản hồi nào và cũng không có mặt các buổi làm việc, phiên hòa giải và phiên tòa. Việc này thể hiện anh Ng không tích cực trong việc hàn gắn tình cảm vợ chồng, không mong muốn vợ chồng được đoàn tụ mà hoàn toàn bỏ mặc. Như vậy, thấy rằng mâu thuẫn giữa chị N và anh Ng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị N, cho chị N được ly hôn với anh Ng là hoàn toàn có cơ sở, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về nuôi con chung:

Quá trình chung sống chị Nguyễn Thị Hồng N và anh Bùi Văn Ng có 02 con chung là cháu Bùi Khôi Nguyên, sinh ngày 21 tháng 8 năm 2013 và cháu Bùi Ng Diệp sinh ngày 15 tháng 11 năm 2017.

Qua lời khai của nguyên đơn và kết quả xác minh, Hội đồng xét xử thấy rằng hiện cháu Diệp đang ở với chị N tại gia đình nhà ông bà ngoại, còn cháu Nguyên ở với bố và ông bà nội. Các cháu đều phát triển tốt về tinh thần và thể chất, được sự quan tâm đầy đủ của gia đình. Qúa trình giải quyết vụ án cháu Nguyên có ý kiến mong muốn được ở với bố. Do vậy, để đảm bảo cho sự ổn định về nơi ở, học tập cũng như tránh sự xáo trộn về tâm lý cũng như đảm bảo đúng nguyện vọng, quyền lợi về mọi mặt của con chung, có căn cứ chấp nhận đề nghị của chị N. Giao con chung cháu Bùi Khôi Nguyên, sinh ngày 21 tháng 8 năm

3

2013 cho anh Ng nuôi dưỡng trực tiếp nuôi dưỡng và cháu Bùi Ng Diệp sinh ngày 15 tháng 11 năm 2017 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành, theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về cấp dưỡng: Chị N và anh Ng không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

[2.3] Về tài sản chung: Nguyên đơn, bị đơn không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.

[2.4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị N phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

[3]!Quyền!kháng!cáo:!Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT!ĐỊNH!

!

Căn cứ:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình.

- Điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016 /UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Chấp nhận đơn khởi kiện ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn của chị Nguyễn Thị Hồng N.

1.!Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hồng N được ly hôn anh Bùi Văn Ng.

2. Về nuôi con chung: Giao con chung cháu Bùi Khôi N, sinh ngày 21 tháng 8 năm 2013 cho anh Ng nuôi dưỡng và cháu Bùi Ng D sinh ngày 15 tháng 11 năm 2017 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng. Thời điểm nuôi dưỡng con chung kể từ tháng 9 năm 2020, cho đến khi hai con chung thành niên (đủ 18 tuổi).

Chị N và anh Ng không ai phải cấp dưỡng con chung Sau khi ly hôn, chị N và anh Ng có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung và có quyền đề nghị thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật.

3.!Án phí dân sự sơ thẩm: Chị N phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) vào ngân sách Nhà nước (được trừ án phí bằng tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ theo biên lai thu 0003418 ngày 19 tháng 6 năm 2020 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh).

4

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ