- Tranh chấp gì? "Chu Trường Hiệp - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] . Tuyên bố bị cáo Chu Trường H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TßA ¸N NH©N D©N Thµnh phè ® tØnh l©m ®ång | CỘNG HÒA Xà HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ___________________ B¶n ¸n sè: 47/2018/HSST Ngµy : 19/4/2018 |
NH©N DANH
N íC CéNG HßA X· HéI CHñ NGHÜA ViÖT NAM
TßA ¸N NH©N D©N thµnh phè ®, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
+ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa : Ông HOÀNG TRÌNH
+ Các Hội thẩm nhân dân:
1/. Ông PHẠM QUANG VINH
2/. Ông BÙI KIM HIẾU
- Thư ký phiên tòa: Ông NGUYỄN VĂN ĐỒNG - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đ
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông NGUYỄN VĂN KIỀN - Kiểm sát viên
Hôm nay, ngày 19 tháng 4 năm 2018. tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đ, Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 46/2018/HSST ngày 26 tháng 3 năm 2018; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/QĐ-HSST ngày 05 tháng 4 năm 2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: CHU TRƯỜNG H. Sinh ngày 25 tháng 5 năm 1995. Nơi sinh: Lâm Đồng. Nơi ĐKNKTT: Thôn 2, Xã M, huyện L, Lâm Đồng. Chỗ ở: 11 - V, Phường 8, thành phố Đ, Lâm Đồng (Nhà trọ). Nghề nghiệp: Làm thuê. Trình độ học vấn: Lớp 8/12. Con ông: Chu Hữu Đ, sinh năm 1964; Con bà: Nguyễn Thị N, sinh năm 1970. Vợ: Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1995, có 01 con, sinh năm 2015. Hiện ở tại: Thôn 2, xã M, huyện L, Lâm Đồng. Tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt, tạm giam ngày 18/01/2018. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đ, Lâm Đồng, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chu Trường H là đối tượng nghiện chất ma túy (Methamphetamine) và đã bị Công an thành phố Đ, Lâm Đồng lập hồ sơ giáo dục về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy nhưng H vẫn tiếp tục sử dụng. Khoảng 20 giờ ngày 17/01/2018, Hiệp có gặp một người bạn tên T (không rõ lai lịch, địa chỉ) tại quán cà phê Milano trên đường N, Phường 2, thành phố Đ, Lâm Đồng. Sau khi uống cà phê, H rủ T về phòng trọ của mình tại số 11 - V, Phường 8, thành phố Đ, Lâm Đồng chơi. Tại đây T có lấy ma túy đá ra để H và T cùng sử dụng, sau khi sử dụng ma túy xong thì T bỏ đi, trước khi đi T có cho H 02 gói ma túy đá, H đem cất giấu vào trong góc bàn nhỏ trong phòng trọ của H với mục đích để sử dụng dần. Đến khoảng 09 giờ 45 ngày 18/01/2018, Công an thành phố Đ, Lâm Đồng kiểm tra phòng trọ của Chu Trường H, phát hiện, bắt quả tang và thu giữ trong phòng trọ của H 02 gói nilon hàn kín, bên trong chứa chất ở dạng tinh thể màu trắng; 01 bình và ống thủy tinh dùng để sử dụng ma túy.
Tại Kết luận giám định số 463/GĐ-PC54 ngày 19/01/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Lâm Đồng kết luận: Mẫu tinh thể đựng trong 02 gói nilon được niêm phong gởi giám định có khối lượng 0,4888 gam là Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy, nằm trong danh mục II, STT 67, Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ.
Tại phiên tòa, bị cáo Chu Trường H khai nhận vào ngày 17/01/2018 bị cáo đã có hành vi nhận Methamphetamine của một đối tượng tên T (không rõ lai lịch) cho tại thành phố Đ, sau đó tàng trữ để sử dụng và khi bị cáo đang tàng trữ số ma túy này tại phòng trọ thì bị Công an thành phố Đ, Lâm Đồng kiểm tra, phát hiện và bắt giữ, thu giữ 02 gói ma túy H vừa được cho trước đó với các hành vi cụ thể như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu là đúng, bị cáo không thắc mắc hay khiếu nại gì về nội dung bản Cáo trạng.
Tại Cáo trạng số 50/CT-VKS ngày 23/3/2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ truy tố Chu Trường H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lâm Đồng giữ quyền công tố luận tội và tranh luận như sau: Tại phiên tòa bị cáo Chu Trường H đã khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, không có nội dung gì thay đổi, hành vi của bị cáo tàng trữ 0,4888 gam Methamphetamine có đủ các yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Chu Trường Hiệp từ 15 đến 18 tháng tù. Về xử lý vật chứng, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo qui định của pháp luật. Bị cáo không có tranh luận gì với Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố và chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng:
Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, Lâm Đồng và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, Lâm Đồng và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục qui định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại nào về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được tiến hành hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo Chu Trường H:
Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ nhận thức, bị cáo biết rất rõ việc mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép các chất ma túy, trong đó có Methamphetamine, một loại ma túy tổng hợp là hành vi trái pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo nhận từ người khác cho và tàng trữ 0,4888 gam Methamphetamine với mục đích để sử dụng là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật và gây mất trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Biên bản phạm tội quả tang, lời khai trong quá trình điều tra và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Có đủ căn cứ kết luận bị cáo Chu Trường H đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt đối với bị cáo được qui định tại điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tình tiết định khung hình phạt:
Hành vi của bị cáo tàng trữ ma túy nhưng chỉ với khối lượng 0,4888 gam Methamphetamine, không có tình tiết định khung tăng nặng nào được qui định tại điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 nên bị cáo chỉ bị xét xử theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:
Bị cáo Chu Trường H không có tình tiết tăng nặng nào theo qui định tại điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015. Sau khi bị bắt, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ hình phạt qui định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, cần áp dụng để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
Về áp dụng hình phạt bổ sung:
Xét hiện bị cáo không có việc làm ổn định, không xác định được bị cáo có nguồn thu nhập gì từ việc Tàng trữ trái phép chất ma túy nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng :
Các loại vật chứng đã thu giữ trong quá trình điều tra vụ án gồm có: Hai phong bì đã được niêm phong, trong đựng vật chứng còn lại sau giám định và bao gói vật chứng trước khi giám định; một bình có gắn ống thủy tinh dùng để sử dụng ma túy, xét các vật chứng trên không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu hủy.
Về án phí:
Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo qui định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] . Tuyên bố bị cáo Chu Trường H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
[2] . Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Chu Trường H 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/01/2018.
[3]. Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự và điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu để tiêu hủy: 02 phong bì đã niêm phong đựng vật chứng còn lại sau giám định và bao gói vật chứng trước khi giám định và 01 bình có gắn ống thủy tinh dùng để sử dụng ma túy.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/3/2018 giữa Công an thành phố Đ và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đ).
[4]. Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về lệ phí, án phí Tòa án, buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[5]. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - Tòa án ND tỉnh Lâm Đồng; - Sở tư pháp tỉnh Lâm Đồng; - VKSND thành phố Đ; - Công an thành phố Đ; - Thi hành án thành phố Đ; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Bộ phận theo dõi THA phạt tù; - Lưu. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Hoàng Trình |