vanban.org

Bản án 47

TAND tỉnh Yên Bái Tuyên án 14/11/2018 Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 14/11/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thi Thu H. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 34/2018/HS-ST ngày 22/08/2018 của Tòa án nhân dân huyện VC, tỉnh Yên Bái như sau:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thi Thu H phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thi Thu H 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 09/03/2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Nguyễn Thị Thu H - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thi Thu H. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 34/2018/HS-ST ngày 22/08/2018 của Tòa án nhân dân huyện VC, tỉnh Yên Bái như sau:
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

B¶n ¸n sè: 47/2018/HS-PT
Ngµy 14 - 11 -2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH YÊN BÁI

Th3 phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Việt Hà

Các Thẩm phán: Ông Phạm Hồng Quân

Bà Nguyễn Thị Thu Lan

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Phượng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái tham gia phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Quý - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 90/2018/HSPT ngày 02 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo Nguyễn Thi Thu H do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 34/2018/HS-ST ngày 22/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện VC, tỉnh Yên Bái.

Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thi Thu H, sinh ngày 25/12/1991 tại huyện VC, tỉnh Yên Bái.

Nơi đăng ký thường trú: Tổ 8, thị trấn NTLS, huyện VC, tỉnh Yên Bái; chỗ ở: Tổ 4, phường PT, thị xã NL, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Duy Th và bà Nguyễn Thị Th1; có chồng: Đinh Đức Th3 (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 09/03/2018, tạm giam ngày 12/03/2018 hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Yên Bái, có mặt.

NHẬN THẤY:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội D vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 14 giờ 15 phút ngày 08/3/2018 tại khu vực thông VH, xã CT, huyện VC, tỉnh Yên Bái tổ công tác của Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy của Công an tỉnh Yên Bái bắt quả tang Nguyễn Thi Thu H đang có hành vi mua bán trái phép chất ma túy, tang vật thu giữ có 04 hộp cát tông bên trong có chứa nhiều quả tươi màu xanh, 14.500.000 đồng và 01 điện thoại di động. Nguyễn Thi Thu H khai nhận số quả tươi màu xanh là quả thuốc phiện H đang chuẩn bị bán cho người mua, khám xét khẩn cấp nơi ở của H tại tổ 4, phường PT, thị xã NL, tỉnh Yên Bái cơ quan công an phát hiện có 04 thanh niên đang sử dụng trái phép chất ma túy gồm Lưu Văn H1, Đỗ Văn H2, Nguyễn Bảo L, và Cầm Ngọc Kh. Cơ quan Công an thu giữ của Lưu Văn H1 01 gói nilon có chưa các hạt tinh thể màu trắng, 01 bộ đồ thủy tinh dùng để sử dụng ma túy, và 05 điện thoại di dộng của các đối tượng.

Quá trình điều tra Nguyễn Thi Thu H khai nhận vào ngày 06/3/2018 khi H đang ở phòng trọ, có 1 người đàn ông tên là L1, nhà ở xã NK, huyện MCC đến chơi và nói có người cần mua quả thuốc phiện tươi, L1 đã cho H số điện thoại của người cần mua quả thuốc phiện để H liên hệ. Ngày 07/3/2018 H nhận được điện thoại của người đàn ông lạ, giới thiệu tên là Th3 người quen của L1, muốn mua khoảng 50 kg quả thuốc phiện. H và Th3 thỏa thuận với giá bán 2.000.000 đồng/1kg. Sau khi thỏa thuận mua bán với Th3 xong, H đã liên hệ với D nhà ở Hà Nội, là người mà H quen từ trước và đã có 2, 3 lần H mua quả thuốc phiện của D để trao đổi về việc H sẽ mua quả thuốc phiện bán cho Th3. Đêm ngày 07/3/2018 H đi xe ô tô về Hà Nội với mục đích gặp D để thực hiện việc mua bán quả thuốc phiện. Ngày 08/3 H và D trao đổi qua điện thoại mạng ZALO và thống nhất D sẽ bán cho H 40 kg quả thuốc phiện với giá 1.600.000 đồng/1kg. H chuyển trước cho D 30 triệu đồng qua số tài khoản ngân hàng của người bạn D là Nguyễn Thị Thu H4, trú tại số 65 phố TK, phường TXN, thành phố Hà Nội. Số tiền còn thiếu D cho H nợ đến khi nào bán xong quả thuốc phiện thì sẽ chuyển nốt. Số quả thuốc phiện D sẽ đóng gói gửi xe ô tô Tuần Phương tuyến MĐ – NL chuyển cho H. Sau khi thống nhất H đã nhờ LNK là người quen của Lưu Văn H1 và nhờ Kh cầm 30 triệu đồng chuyển tiền vào tài khoản của H4 còn H lên xe Tuần - Phương đi về NL. Đến khu vực thôn VH, xã CT, huyện VC, H xuống xe lấy 04 thùng quả thuốc phiện chờ Th3 đến để bán thì bị bắt.

Tại bản kết luận giám định số 80/KLGĐ ngày 13/3/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái kết luận: Toàn bộ số tiền 14.500.000 đồng (mười bốn triệu năm trăm nghìn đồng) gửi giám định đều là tiền do Ngân hàng nhà nước Việt Nam phát hành.

Tại bản kết luận giám định số 65/GĐMT ngày 16/3/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái kết luận:

1. Quả cây màu xanh, còn tươi thu giữ của Nguyễn Thi Thu H trong hộp số 1 có tổng khối lượng là 7,5 kg (bảy phẩy năm kilogam).

- 0,8 kg trích ra từ 7,5 kg quả cây màu xanh còn tươi gửi giám định là quả cây thuốc phiện.

2. Quả cây màu xanh, còn tươi thu giữ của Nguyễn Thi Thu H trong hộp số 2 có tổng khối lượng là 7,4 kg (bảy phẩy bốn kilogam).

- 0,8 kg trích ra từ 7,4 kg quả cây màu xanh còn tươi gửi giám định là quả cây thuốc phiện.

3. Quả cây màu xanh, còn tươi thu giữ của Nguyễn Thi Thu H trong hộp số 3 có tổng khối lượng là 6,8 kg (sáu phẩy tám kilogam).

- 0,7 kg trích ra từ 6,8 kg quả cây màu xanh còn tươi gửi giám định là quả cây thuốc phiện.

4. Quả cây màu xanh, còn tươi thu giữ của Nguyễn Thi Thu H trong hộp số 4 có tổng khối lượng là 6,3 kg (sáu phẩy ba kilogam).

- 0,7 kg trích ra từ 6,3 kg quả cây màu xanh còn tươi gửi giám định là quả cây thuốc phiện.

5. Các hạt tinh thể màu trắng thu giữ khi khám xét nơi ở của Nguyễn Thi Thu H có khối lượng là 0,06 gam (không phẩy không sáu gam).

- 0,06 gam các hạt tinh thể màu trắng gửi giám định là Ma túy loại Methamphetamin.

Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2018/HS-ST ngày 22/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện VC, tỉnh Yên Bái đã quyết định:

- Căn cứ vào điểm m khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thi Thu H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thi Thu H 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 09/03/2018.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 29/8/2018, bị cáo Nguyễn Thi Thu H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Thi Thu H giữ nguyên nội dung kháng cáo và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung của bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thi Thu H, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 34/2018/HSST ngày 22/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện VC, tỉnh Yên Bái.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thi Thu H làm trong hạn luật định và hợp lệ, nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm và tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như vậy, đủ cơ sở kết luận: Ngày 08/3/2018 Nguyễn Thi Thu H đã mua của đối tượng tên D ở Hà Nội 28 kg quả thuốc phiện tươi đem về để bán cho người đàn ông tên Th3 mà bị cáo không biết lai lịch địa chỉ. Khi đến khu vực thông VH, xã CT, huyện VC bị cáo xuống xe và nhận toàn bộ số quả thuốc phiện tươi mà D đã giử trên xe cho bị cáo, trong lúc đứng chờ người mua đến thì bị phát hiện bắt giữ. Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyện Thị Thu H đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm m khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Xét nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng: Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ “thành khẩn khai báo” và cũng đã xem xét đến tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không có thêm tình tiết giảm nhẹ nào khác, khối lượng chất ma túy bị cáo mua bán với khối lượng không nhỏ so với quy định trong khung hình phạt. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 09 năm tù là không nặng. Do đó, không có căn cứ để giảm hình phạt cho bị cáo.

Cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm nên bị cáo Nguyễn Thi Thu H phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thi Thu H. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 34/2018/HS-ST ngày 22/08/2018 của Tòa án nhân dân huyện VC, tỉnh Yên Bái như sau:

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thi Thu H phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm m khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thi Thu H 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 09/03/2018.

2. Về án phí: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Thi Thu H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm.

3. Quyết định của bản án sơ thẩm về xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ và về án phí không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ