vanban.org

Bản án 47

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

; Điều 38; Điều 17; Điều 58; điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật H ình sự đối vớ cả hai bị cáo

Về tội danh: Các bị cáo Lê Văn D và Cao Văn T phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma tuý”. Về h ình phạt: Xử phạt bị cáo Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Vụ án Lê Văn D và đồng phạm phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sun…"
  • Tòa quyết gì? ; Điều 38; Điều 17; Điều 58; điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật H ình sự đối vớ cả hai bị cáo
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng H ình sự; Điều 2 Bộ luật H ình sự; Điều 51 Bộ luật H ình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN H À TRUNG
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

B¶n ¸n sè: 47/2021/HS -ST
Ngµy: 24-8-2021

NHÂN DANH

NƯ ỚC CỘNG HO

À XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H À TRUNG, TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phi ên toà: Bà Trịnh Thanh H ương.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Đặng Văn Bộ v à ông Nguyễn Văn Thiện .

- Thư ký phiên toà: ông Đỗ Ngọc Nhạn

- Thư k ý Tòa án, Toà án nhân dân huyện H à Trung, tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: bà Trần Thị Th êm - Kiểm sát vi ên.

Ngày 24tháng 8 năm 2021 tại Hội tr ư ờng xét xử T òa án nhân dân huyện H à Trung, tỉnh Thanh Hóa xét xử s ơ th ẩm công khai vụ án h ình sự sơ thẩm thụ lý số 43/2021/HSST ngày 02/8/2021, theo quyết định đ ưa v ụ án ra xét xử số 43/2021/QĐXXST - HS ngày 06/8/2021 đối với các bị cáo:

1. Lê Văn D; sinh năm 1990; tại xã H, huyện H, tỉnh T; trú tại: thôn T, xã H, huyện H , tỉnh T; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá : lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: N am; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông

Lê Văn Đ và bà Nguyễn Thị L ; bị cáo chưa có v ợ ; tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Tại bản án h ình sự s ơ th ẩm số 59/2016/HS-ST ngày 07/12/2016 của T òa án nhân dân huyện H à Trung, tỉnh Thanh Hóa đã xử phạt bị cáo 09

tháng tù cho hư ởng án treo ,thời gian thử thách l à 18 tháng, tính từ ng ày tuyên án sơ th ẩm, về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt

tài sản” . Bị cáo chấp h ành xong bản án ng ày 07/6/2018.

Tạm giữ, tạm giam: Bị cáo bị tạm giữ từ ng

ày 07/4/2021 đến ng ày 16/4/2021 chuyển tạm giam tại nh à tạm giữ công an huyện H

à Trung cho đến nay .

Bị cáo có mặt tại phi ên toà.

2. Cao Văn T; sinh năm 1991; tại xã H, huyện H, tỉnh T ; trú tại: thôn M , xã H, huyện H, tỉnh T; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá : lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: N am; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông

Cao Văn Th và bà Trịnh Thị C ; bị cáo chưa có v ợ và có 01 con; tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Tại bản án h ình sự s ơ th ẩm số 76/2010/HS-ST ngày 16/12/2010 của T òa án nhân dân quận Hải An, th ành phố Hải phòng đã xử phạt bị cáo

36 tháng tù, về tội “ Môi giới mại dâm ”. Bị cáo chấp h ành xong bản án ng ày 30/8/2012.

Tại quyết định xử phạt vi phạm h

ành chính số 06/ QĐ-XPVPHC ngày 25/10/2015 bị cáo bị Công an huyệ n Hà Trung xử phạ t 750.000 đồng về hành vi “Sử dụ ng trái phép chấ t ma túy”. Bị cáo chấp h ành xong quyết định ng ày 14/12/2015.

Tạm giữ, tạm giam: Bị cáo bị tạm giữ từ ng

ày 07/4/2021 đến ng ày 16/4/2021 chuyển tạm giam tại nh à tạm giữ công an huyện H

à Trung cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phi ên toà.

Ngư ời làm chứng : - Anh Bùi Văn M; sinh năm: 1993; nơi cư trú: thôn L, xã T, huyện T, tỉnh T , vắng mặt.

- Anh Nguyễn Văn Đ ; sinh năm: 1992; nơi cư trú: thôn Đ, xã L, huyện H, tỉnh T, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ s ơ v ụ án v à diễn biến tại

phiên tòa, nội dung vụ án đư ợc tóm tắt nh ư sau:

Vào hồi 18 giờ 45 phút , ngày 07 tháng 4 năm 2021, tại tiểu khu 6, thị trấn H

à Trung, huyện H à Trung, tỉnh Thanh Hóa , Công an huyện H à Trung phối hợp với Công an thị trấn H à Trung làm nhiệm vụ tuần tra kiểm so

át an ninh tại khu vực Trung tâm y tế huyện H à Trung, phát hiện Nguyễn Văn Đ , sinh năm 1992, trú tại : xã L, huyện H , tỉnh T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 36B1-52738 chở p hía sau là Bùi Văn M, sinh năm 1993, trú tại : xã T, huyện T, tỉnh T có biểu hiện n ghi vấn . Tổ công tác y êu cầu dừng xe , kiểm tra phát hiện, thu giữ trong túi quần b ên phải phía trư ớc M đang mặc 01 (một) túi ni lon màu trắng có viền xanh, b ên trong có chứa các hạt tinh thể m àu trắng nghi l à ma túy đá, kiểm tra ng ư ời Nguyễn Văn Đ và xe môtô không thu giữ g ì thêm. Tổ công tác tiến h ành niêm phong vật chứng và đưa Nguyễn Văn Đ, B ùi Văn M về Công an huyện H à Trung làm việc.

Nguyễn Văn Đ v à Bùi Văn M khai nhận: V ào khoảng 16 giờ 40 phút , ngày 07/4/2021 Nguyễn Văn Đ v à Bùi Văn M góp tiền mua của L ê Văn D ở x ã H, huyện H 01 gói ma túy đá với giá 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) sau khi mua đư ợc ma túy, cả hai chia đôi gói ma túy ra sử dụng. Đến 17 giờ 30 phút c

ùng ngày cả hai lại tiếp tục góp tiền để mua ma túy sử dụng

. Đ gọi điện cho L ê Văn D hỏi mua ma túy nhưng D nói không còn và bảo để anh hỏi bạn

anh còn không, có gì anh điện. Sau đó D gọi cho Đ đến câ y xăng xã Hà Lai có bạn của D đưa cho. Trên đư ờng đi đến cây xăng xã Hà Lai thì Cao Văn T gọi điện cho Nguyễn Văn Đ

đến tr ư ờng ti ểu học xã Hà Lai lấy ma túy, Đ v à M đến gặp và mua của T 01 gói ma túy với giá 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), sau đó cả hai quay về đến Trung tâm y tế huyện H

à Trung thì bị Công an phát hiện, thu g iữ gói ma túy trong túi quần M đang mặc .

Thông qua lời khai của Nguyễn Văn Đ v

à Bùi Văn M, Công an tiến h ành giữ ngư ời trong tr ư ờng hợp khẩn cấp v

à khám xét khẩn cấp chỗ ở của Cao Văn T tại thôn Mậu Y ên 2, xã Hà Lai, huyện H à Trung, phát hiện thu giữ trên ngư ời T số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) là số tiền T vừa bán ma túy cho Đ v

à M; 01 điện thoại di động Iphone 6s màu hồng ; khám xét, thu giữ tr ên ngư ời D 230.000đ(hai trăm ba mươi ngh ìn đồng) là tiền D bán ma túy cho Đ v à M, (D đã sử dụng 70.000 đồng để tiêu xài cá nhân); 01 điện thoại di động Iphone 5 màu vàng gold. Kiểm tra điện thoại di động c ủa Cao Văn T sử dụng số thu

ê bao 0865637170 có gọi điện, nhắn tin tới số thu

ê bao 0328601300 và tài khoản icloud: [email protected] của L ê Văn D. D và T cũng sử dụng số thu

ê bao trên để gọi điện cho nhau và gọi cho số thu ê bao 0967851322 của Nguyễn Văn Đ . Thời gian gọi v à nội dung tin nhắn t rùng khớp với lời khai của T, D v

à Đ.

Quá trình điều tra L ê Văn D và Cao Văn T khai nhận: Ng ày 06 tháng 4 năm 2021, Cao Văn T và Lê Văn D góp mỗi ng ư ời 600.000đ (sáu trăm ngh ìn đồng) đi mua ma túy ở tiểu khu Th ư ợng Quý, thị trấn H à Trung của một ng ư ờ i không quen biết. Sau đó, T v à D chia đôi số ma túy về nh à để sử dụng.

Khoảng 16 giờ 40 phút, ngày 07 tháng 4 năm 2021, D đang ở nh à nghỉ Tr ư ờng Hải thuộc tiểu khu 6, thị t

rấn Hà Trung, thì Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1992 ở x ã L, huyện H , sử dụng số thu

ê bao 0967851322 gọi cho số thu ê bao 0328601300 của L ê Văn D hỏi mua 300.000 đồng ma túy đá, D đồng ý v à hẹn Đ đến Ngân h àng nông nghiệp v à phát triển nông thôn chi nhánh huyện H à Trung để lấy ma túy. Sau đó, D bỏ 01 gói ma túy đá đư ợc bọc bằng gói nilon m àu trắng có viền m àu xanh vào vỏ bao thuốc lá Thăng Long rồi để ở gốc cây gần chỗ đứng đợi. Một lúc

sau, Nguyễn Văn Đ điều xe m ôtô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu đen, biển kiểm soát 36B1-52738 chở theo B ùi Văn M, sinh năm 1993 ở x ã T, huyện T đến gặp D v à đưa cho D 300.000 đồng . D chỉ cho Đ đến vị trí để ma túy thì M đi lại chỗ gốc cây lấy

, sau đó D về nh à nghỉ Tr ư ờng Hải . Đến khoảng 17 giờ c ùng ngày, Đ lại gọi cho D, hỏi c

òn ma túy không, D bảo “không còn, để anh hỏi lại bạn

có gì anh gọi lại sau ”. Sau đó, D gọi điện cho số thu

ê bao 0865637170 của Cao Văn T hỏi có còn ma túy không bán cho Đ, T bảo c òn nên D gửi số điện thoại củ

a Đ cho T rồi gọi điện bảo Đ

xuống cây xăng x ã Hà Lai, huyện H à Trung lấy ma túy. Một lúc sau, Cao Văn T sử dụng số thu

ê bao 0865637170 gọi cho Nguyễn Văn Đ, hẹn Đ

đế n Trư ờng tiểu học x

ã Hà Lai. Đ chở M đến v à đưa cho T 300.000 đồng để mua ma túy đá, T cầm tiền v à bảo Đ ra lấy ma túy để trong bao t huốc lá ở tr ên cây cột điện, M xuống xe lại chỗ cây cột điện để lấy ma túy rồi c ùng Đ đi về, T cũng đi bộ về nh

à. Đến khoảng 19 giờ 30 phút thì bị công an huyện H à Trung khám xét nơi ở, thu giữ số tiền 300.000 đ (ba trăm nghìn đồng) ; 01 điện thoại di động Iphone 6s màu hồng . Cùng lúc này, Lê Văn D bắt taxi đế nnhà Cao Văn T thì thấy công an đang bắt giữ T nên bỏ đi nhưng bị công an phát hiện bắt giữ và thu 230.000đ (hai trăm ba mươi ngh ìn đồng) ; 01 điện thoại di động Iphone 5 màu vàng gold.

Vật chứng thu giữ gồm:

01 túi nilon màu xanh bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng , nghi là ma túy, đư ợc ni êm phong ký hiệu “Vụ Nguyễn Văn Đ + B ùi Văn M”; 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 100.000 đồng

có số seri 17860460 ; 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng có số seri 10747368 ; 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá

200.000 đồng có số seri 13778722; 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 20.000 đồng có số seri 19003016;01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 10.000 đồng,

số seri 18883645; 01 điện thoại di động I phone 5 màu vàng Gold; 01 điện thoại di động Iph one 6S màu hồng.

Tại bản kết luận giám định số:

1322/PC09 ngày 12/4/2021 của Ph òng kỹ thuật hình sự Cô ng an tỉnh Thanh Hoá kết luận: Các hạt tinh thể m

àu trắng của phong b ì mặt trư ớc có ghi “Vụ Nguyễn Văn Đ

+ Bùi Văn M” niêm phong gửi giám định l à ma túy có tổng khối l ư ợng 0,017 g (Không phẩy không một bảy gam)

loại: Methamphetamine.

Cáo trạng số 50/CT-VKS ngày 02/8/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện

Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa đ ã truy tố bị cáo Lê Văn D về tội “ Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b, khoản 2, Điều 2 51 Bộ luật H ình sự năm 20 15; truy tố bị cáo Cao Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1, Điều 2 51 Bộ luật H ình sự năm 2015 .

Tại phi ên tòa, bị cáo thừa nhận h ành vi như cáo tr ạng đ ã truy tố. Đại diện Viện

kiểm sát nhân dân huyện H à Trung giữ nguy ên quyết định truy tố v à đề nghị áp dụng điểm b khoản 2, Điều 2 51 Bộ luật H ình sự đối với bị cáo L

ê Văn D; khoản 1, Điều 2 51 Bộ luật h ình sự đối với b

ị cáo Cao Văn T ; Điều 38; Điều 17; Điề u 58; điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật H ình sự đối vớ cả hai bị cáo.

Xử phạt bị cáo

Lê Văn D từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm tù; xử phạt bị cáo Cao Văn T từ 2 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA T

ÒA ÁN:

Trên cơ s ở nội dung vụ án, căn cứ v

ào các tài liệu trong hồ s ơ v ụ án đ ã đư ợc tranh tụng tại phi ên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nh

ư sau:

[1]. Quá trình điều tra, truy tố các bị cáo không có khiếu nại về h

ành vi tố tụng, quyết địn h tố tụng của ng

ư ời tiến h ành tố tụng v à cơ quan ti ến h ành tố tụng. Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của ng

ư ời tiến h ành tố tụng, c ơ quan ti ến h ành tố tụng đ ã thực hiện đúng với tr

ình tự, thủ tục, thẩm quyền v

à hợp pháp theo quy định của Bộ luật Tố

tụng h ình sự.

[2]. Lời khai của các bị cáo tại phi ên toà phù hợp với lời khai của

các bị cáo ở giai đoạn điều tra, ph ù hợp với lời khai của ng

ư ời l àm chứng, ph ù hợp với vật chứng thu giữ đ ư ợc v à bản kết luận giám định

, đủ c ơ s ở khẳng định : Ngày 07/4/2021, Lê Văn D và Cao Văn T đã có hành vi bán trái phép cho Bùi Văn M và Nguyễ n Văn Đ 0,017 gam loại Methamphetamine. Ngoài ra, Lê Văn D còn có một lần bán trái p hép chất ma túy cho B ùi Văn M và Nguyễn Văn Đ cũng v ào ngày 07/4/2021. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân d ân huyện H à Trung truy tố bị cáo Lê Văn D về tội “ Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b, khoản 2, Điều 2 51 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Cao Văn T về tội “ Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1, Điều 2 51 Bộ luật H ình sự là đúng ngư ời, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của các bị cáo l à rất nguy hiểm cho x ã hội, xâm phạm đến chế độ độc

quyền quản lý của Nh à nư ớc về các chất ma tuý. Đây l à chất gây nghiện có tác hại rất lớn v à ảnh h ư ởng xấu tới sức khoẻ con ng

ư ời, l à một trong những nguy ên nhân chính gây ra các loại tội phạm v à tệ nạn x ã hội khác.

Lê Văn D là đối t ư ợng đ ã bị kết án, tại bản án

hình sự s ơ th ẩm số 59/2016/HS - ST ngày 07/12/2016 của T òa án nhân dân huyện H à Trung, tỉnh Thanh Hóa xử phạt bị cáo 09 tháng t ù cho hư ởng án treo, thời gian thử thách l à 18 tháng, tính từ ng ày tuyên án sơ th ẩm, về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt t

ài sản” , mặc d ù bị cáo đ ã chấp h ành xong bản án, đ ã đư ợc xóa án tích nh ưng đi ều đó cho thấy bị cáo có nhân thân xấu .Vì vậy , phải cách ly khỏi đời sống x

ã hội tron g mộ t thời gian mới đủ sức cải tạo, giáo dục

bị cáo .

Cao Văn T cũng là đối t ư ợng đã 01 lần bị kết án v à một lần bị xử phạt vi phạm

hành chính: tại bản án h ình sự s ơ th ẩm số 76/2010/HS -ST ngày 16/12/2010 của T òa án nhân dân quận Hải An, th ành phố Hải ph òng đã xử phạt bị cáo 36 tháng t ù, về tội “Môi giới mại dâm”; tại quyết định xử phạt vi phạm h

ành chính số 06/QĐ - XPVPHC ngày 25/10/2015 của Công an huyệ n Hà Trung đã xử phạ t bị cáo 750.000 đồng về hành vi “Sử dụ ng trái phép chấ t ma túy”. Mặc d ù bị cáo đ ã chấp hành xong các quyết định n ày nhưng đi ều đó cho thấy bị cáo có nhân thân xấu

, do đó cũng phải cách ly bị cáo khỏi đờ

i sống x ã hội trong một thời gian để cải tại, giáo dục bị cáo đồng thời để răn đe ph

òng ngừa chung.

Về t ình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm h

ình sự: Các bị cáo không phạm tình tiết tăng nặng trách nhiệm h ình sự n ào và đư ợc h ư ởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm h ình sự theo điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật h

ình sự năm 2015 .

Trong vụ án này, Nguyễn Văn Đ và Bùi Văn M tàng trữ trái phép chấ t ma túy với khố i lư ợ ng dư ới 0,1 gam . Đ và M chưa bị kết án, chưa bị xử phạt hành chính liên quan đến các tội về ma túy nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hà Trung đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Đ và M về hành vi “Tàng trữ trái phép chấ t ma túy” là đúng quy định .

Đố i vớ i ngư ờ i nam thanh niên bán ma tuý cho Lê Văn D và Cao Văn T, do D và T không rõ đặ c điể m và không biế t tên, tuổ i, đị a chỉ cụ thể củ a ngư ờ i này nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án.

[3]. Về vật chứng:

Số ma túy c ơ quan đi ều tra thu giữ đ ư ợc còn lại sau giám định l à vật cấm t àng trữ, l ưu hành nên phải tịch thu ti êu huỷ . Số tiền 530.000 đồng là tiền do các bị cáo phạm tội m à có nên phải tịch thu nộp ngân sách Nh à nư ớc . Số tiền 70.000 đồng do bị cáo D phạm tội m à có, bị cáo đ ã tiêu xài cá nhân nên phải truy thu nộp ngân sách nh à nư ớc. 02 chiếc điện thoại c ông an thu giữ của D v à T, đây là công cụ, ph ương t iện phạm tội n ên phải tịch thu nộp ngân sách nh à nư ớc.

Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 36B1-52738 là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị H, nên cơ quan Cảnh sát điều ra Công an huyện Hà Trung đã trả lại cho chị H là đúng quy định .

[4]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ tr ên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 2, Điều 2 51Bộ luật H ình sự đối với bị cáo L ê Văn D; khoản 1, Điều 2 51 Bộ luật h ình sự đối với bị cáo Cao Văn T

; Điều 38; Điều 17; Điều 58; điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật H ình sự đối vớ cả hai bị cáo

.

1. Về tội danh: Các bị cáo Lê Văn D và Cao Văn T phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma tuý”.

2. Về h ình phạt: Xử phạt bị cáo

Lê Văn D 07(bảy )năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp h ành hình phạt t ù tính từ ng ày bị cáo bị tạm giữ l

à ngày 07/4/2021.

Xử phạt bị cáo Cao Văn T

02 (hai ) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp h ành hình phạt t ù tính từ ng ày bị cáo bị tạm giữ l

à ngày 07/4/2021.

3. Về vật chứng: Căn cứ

điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng H

ình sự.

Tịch thu ti êu huỷ: Số ma túy c ơ quan đi ều tra thu giữ đ ư ợc c òn lại sau giám định đư ợc đựng trong phong b ì do Phòng kỹ thuật h ình sự, Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành đư ợc dán kín, ni êm phong

Tịch thu nộp ngân sách nh à nư ớc : 01 điện thoại di động Iphone 5 m àu vàng Gold; 01 điện thoại di động Iphone 6S m àu hồng; số tiền 530.000 đồ ng theo biên lai thu tiền số AA/2017/0000138 ngày 18/8/2021 của Chi cục Thi h ành án dân sự huyện H à Trung.

Truy thu nộp ngân sách nh à nư ớc số tiền 70.000 đồ

ng là tiền do bị cáo L ê Văn D phạm tội m à có.

Đặc điểm của phong b ì niêm phong và 02 chiếc điện thoại

theo biên bản giao nhận vật chứng giữa C

ơ quan c ảnh sát điều tra Công an huyện H à Trung và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện H à Trung ngày 18/8/2021.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2, Điều 136 Bộ luật tố tụng H

ình sự; Điều 6, Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ng ày 30/12/2016 của Ủy ban thư ờng vụ Quốc hội.

Buộc các bị cáo Lê Văn D và Cao Văn T mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự s ơ th ẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản

án trong thời hạn 15 ngày kể từ ng ày tuyên án.

Trư ờng hợp bản án đ

ư ợc thi h ành theo Điều 2 Luật Thi h ành án Dân sự th ì ngư ời đ ư ợc thi h ành án dân sự, ng ư ời phải thi h ành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền y êu cầu thi h ành án, tự nguyện thi h ành án hoặc bị c ư ỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 v à 9 Luật Thi h ành án Dân sự; thời hiệu thi hành án đư ợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi h

ành án Dân sự.

Cỡ chữ