vanban.org

Bản án 47/2026/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”

Xử phạt bị cáo 02 (Hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/4/2026. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh T - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 256a Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 13-LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2026/HSST
Ngày: 31/7/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13-LÂM ĐỒNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Thanh Nữ Kiều Oanh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Ngọc Đổi

Bà Phạm Thị Bích Lệ

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Thành - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 13-Lâm Đồng

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13-Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Lư Ngọc Quí- Kiểm sát viên.

Trong ngày 31 tháng 7 năm 2026 tại Tòa án nhân dân khu vực 13-Lâm Đồng xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 43/2026/HSST, ngày 06/7/2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2026/QĐXXST-HS ngày 08/7/2026 và thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số 16/2026/TB0TA, ngày 29/7/2026 đối với bị cáo:

Nguyễn Thanh T, sinh năm 1991 tại tỉnh Lâm Đồng

ĐKHTTT và chỗ ở hiện nay: Thôn C, xã B, tỉnh Lâm Đồng; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn N và bà Nguyễn Thị M; Anh chị em ruột có 05 người, bị cáo là con thứ tư trong gia đình; Vợ: Lê Thị B (đã ly hôn); Con: có 02 người lớn nhất sinh năm 2013 nhỏ nhất sinh năm 2017.

Tiền án: Không

Tiền sự: 02 tiền sự

- Quyết định xử phạt VPHC, về hành vi: Trộm cắp tài sản, với số tiền là 2.500.000đ (Hai triệu năm trăm ngàn đồng), T đã đóng tiền nộp phạt.

- Ngày 21/8/2023, Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình (nay là Tòa án nhân dân khu vực 13, tỉnh Lâm Đồng) ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 tháng. Đến ngày 28/10/2024 chấp hành xong về địa phương cư trú đến nay.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 29/4/2026 cho đến nay và có mặt tại phiên tòa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thanh T là đối tượng nghiện ma túy ngày 21/8/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận (nay là Tòa án nhân dân khu vực 13, tỉnh Lâm Đồng) ra Quyết định số 21/QĐ-TA đưa đi cai nghiện bắt buộc thời hạn 12 tháng, chấp hành tại Cơ sở cai nghiện tỉnh Bình Thuận (nay là Cơ sở cai nghiện số 3 - Phòng PCO4, Công an tỉnh Lâm Đồng). Ngày 28/10/2024, T chấp hành xong quyết định cai nghiện và về sống tại địa phương. Ngày 22/11/2024, Ủy ban nhân dân thị trấn Chợ Lầu, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận (nay là xã Bắc Bình, tỉnh Lâm Đồng) ra Quyết định số 07/QĐ-UBND về việc quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú đối với , thời hạn quản lý từ ngày 22/11/2024 đến ngày 22/11/2026. Mặc dù T vẫn đang trong thời gian bị quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú nhưng T vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy, cụ thể:

Vào khoảng 06 giờ ngày 11/3/2026, do T nghiện ma túy nên đi đến khu Xóm Cốt thuộc xã P, tỉnh Lâm Đồng mua một tép ma túy (Heroin) của một người thanh niên tên Tèo, độ tuổi khoảng 40, dáng người hơi ốm, cao khoảng 1m6. T không biết tên thật của ông Tèo và cũng không biết người này cư trú ở đâu. T mua ma túy với số tiền là 100.000 đông (một trăm ngàn đồng), ma túy được đựng trong một đoạn ống hút nhựa màu trắng được hàn kín hai đầu, kích thuớc khoảng (0,3x01)cm. Tiền dùng mua ma túy là do T đi làm có được. Sau khi mua ma túy xong, T đi ra khu vực bờ kè xã P, tỉnh Lâm Đồng rồi lấy ma túy từ trong đoạn ống hút ra bỏ vào ống bơm kim tiêm mang theo sẵn. Sau đó, T dùng ống bơm kim tiêm chứa chất ma túy bên trong chích vào cánh tay trái của mình. Sau khi sử dụng ma túy xong, T ném ống bơm kim tiêm cùng đoạn ống nhựa xuống biển gần đó. Sau khi sử dụng xong, T về nhà tại thôn X, xã B, tỉnh Lâm Đồng thì có lực lượng Công an đến mời về trụ sở Công an xã B làm việc và đưa đến Trung tâm Y tế Bắc Bình tiến hành xét nghiệm nhanh chất ma túy trong cơ thể đối với T thì cho kết quả dương tính với ma túy (Heroin). Công an xã B đã lập biên bản ghi nhận toàn bộ nội dung sự việc; lập hội đồng thu giữ 02 (hai) hũ nhựa có nắp đậy màu trắng, kích thước: chiều cao khoảng 06cm, đường kính khoảng 04cm, bên trong hũ chứa nước tiểu màu vàng của và chuyển hồ sơ cho Cơ quan điều tra Công an tỉnh để thụ lý theo thẩm quyền.

Ngày 11/03/2026 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Lâm Đồng ra Quyết định trưng cầu giám định số C2780/QĐ-CSMT, về việc trưng cầu giám định ma túy trong nước tiểu của .

Tại Bản kết luận giám định số 800/KL-KTHS, ngày 23/3/2026 Phòng kỹ thuật hình sự (PC09) - Công an tỉnh Lâm Đồng kết luận: Tìm thấy chất ma túy Heroine (Heroin) tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) và Nghị định số 28/2026/NĐ-CP ngày 19/01/2026 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất trong mẫu nước tiểu của gửi giám định.

Hoàn lại đối tượng giám định: mẫu vật đã sử dụng hết trong công tác giám định, không hoàn trả mẫu vật.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Đối với ống bơm kim tiêm T sử dụng để chích ma túy, sau khi sử dụng xong T đã ném xuống biển không thu giữ được nên không xem xét, xử lý.

Đối với người thanh niên tên Tèo ở khu vực Xóm Cốt, xã Phan Rí Cửa, tỉnh Lâm Đồng đã bán ma túy cho T, do không rõ nhân thân, lai lịch nên sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.

Bản cáo trạng số 18/CT-VKSKV13-LĐ ngày 06/7/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13-Lâm Đồng truy tố bị cáo về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025)

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố và tranh luận vẫn giữ nguyên cáo trạng và đề nghị áp dụng:

- Điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Về vật chứng: Không có

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm về với gia đình để chăm sóc con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan điều tra – Công an tỉnh Lâm Đồng, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13-Lâm Đồng: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.

Về chứng cứ buộc tội bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, bị cáo khẳng định những lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra là hoàn toàn tự nguyện đúng sự thật, bị cáo không bị bức cung và Cáo trạng truy tố là đúng, không oan cho bị cáo. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với khai lời của bị cáo tại Cơ quan điều tra.

Như vậy, đang trong thời gian quản lý sau cai nghiện tại nơi cư trú nhưng ngày 11/3/2026 tại thôn C, xã B, tỉnh Lâm Đồng, vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy thì bị phát hiện. Hành vi của bị cáo T đã vi phạm quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025)

Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13-Lâm Đồng truy tố bị cáo về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Bị cáo là người nghiện ma túy đã bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận (nay là Tòa án nhân dân khu vực 13, tỉnh Lâm Đồng) ra Quyết định số 21/QĐ-TA đưa đi cai nghiện bắt buộc thời hạn 12 tháng, chấp hành tại Cơ sở cai nghiện tỉnh Bình Thuận (nay là Cơ sở cai nghiện số 3 - Phòng PCO4, Công an tỉnh Lâm Đồng). Ngày 28/10/2024, T chấp hành xong quyết định cai nghiện và về sống tại địa phương. Ngày 22/11/2024, Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện B, tỉnh Bình Thuận (nay là xã B, tỉnh Lâm Đồng) ra Quyết định số 07/QĐ-UBND về việc quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú đối với , thời hạn quản lý từ ngày 22/11/2024 đến ngày 22/11/2026. Mặc dù bị cáo T vẫn đang trong thời gian bị quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú nhưng bị cáo T vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy.

Vào khoảng 06 giờ ngày 11/3/2026, bị cáo nên đi đến khu Xóm Cốt thuộc xã P, tỉnh Lâm Đồng mua một tép ma túy (Heroin) của một người thanh niên tên Tèo với số tiền là 100.000 đồng (một trăm ngàn đồng), ma túy được đựng trong một đoạn ống hút nhựa màu trắng được hàn kính hai đầu, kích thuớc khoảng (0,3x01)cm. Tiền dùng mua ma túy là do bị cáo T đi làm có được. Sau khi mua ma túy bị cáo đi ra khu vực bờ kè xã P, tỉnh Lâm Đồng rồi lấy ma túy từ trong đoạn ống hút ra bỏ vào ống bơm kim tiêm mang theo sẵn. Sau đó, dùng ống bơm kim tiêm chứa chất ma túy bên trong chích vào cánh tay trái của mình. Sau khi sử dụng ma túy xong, bị cáo ném ống bơm kim tiêm cùng đoạn ống nhựa xuống biển. Bị cáo T về nhà thì có Công an đến mời về trụ sở Công an xã Bắc Bình làm việc và đưa đến Trung tâm Y tế Bắc Bình tiến hành xét nghiệm nhanh chất ma túy trong cơ thể đối với T thì cho kết quả dương tính với ma túy và chuyển hồ sơ cho Cơ quan điều tra Công an tỉnh để thụ lý theo thẩm quyền.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2025)

Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, là đối tượng nghiện ma túy, có nhân thân xấu bị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Khi về lại địa phương đang trong thời gian quản lý sau cai nghiện tại nơi cư trú bị cáo vẫn cố ý sử dụng ma túy xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý về chất ma túy của Nhà Nước và làm mất trật tự trị an ở địa phương, gây bất bình trong nhân dân, nên cần phải xử lý nghiêm minh. Căn cứ hành vi tính chất, mức độ và hậu quả của bị cáo. Thấy rằng cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, nhằm giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời qua đó nhằm giáo dục và phòng ngừa chung.

Về xử lý vật chứng: Không có

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Tuyên bố bị cáo phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”

Xử phạt bị cáo 02 (Hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/4/2026.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 Bộ luật tố tụng hình sự bị cáo có mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ