vanban.org

Bản án 47/2026/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Danh C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Danh C 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 17/12/2025. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Danh C -Tàng trữ trái phép chất ma túy - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Danh C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 46 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - HY

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2026/HSST
Ngày: 17/3/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HY

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đào Văn Ngà

2. Bà Vũ Thị Toan

- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Văn Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - HY.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - HY tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 1 - HY mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 25/2026/TLST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2026/QĐXXST - HS ngày 04 tháng 3 năm 2026 đối với:

Bị cáo TRẦN DANH C, sinh năm 1985.

Nơi cư trú: Thôn QT, xã TH, tỉnh HY; Giới tính: Nam; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Danh B, sinh năm 1960 và bà Trần Thị N, sinh năm 1961; Có vợ là Đặng Thị Thanh T, sinh năm 1986, hiện đang đi xuất khẩu lao động tại nước Nga; Có 02 con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2012.

Tiền án: Ngày 15/4/2024 bị Toà án nhân dân thành phố HY xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Chấp hành xong ngày 19/5/2025 (chưa được xóa án tích)

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/12/2025 đến ngày 23/12/2025 chuyển tạm giam tại phân trại tạm giam TL- Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh HY.

“ Bị cáo có mặt tại phiên tòa”.

* Người làm chứng

- Ông Nguyễn Văn B2, sinh năm 1950 "Vắng mặt"

- Anh Đào Văn S, sinh năm 1987 "Vắng mặt"

Đều có địa chỉ: Thôn BH, xã TH, tỉnh HY

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 17/12/2025, C đi bộ từ nhà tại thôn QT, xã TH, tỉnh HY đến khu vực cánh đồng thuộc địa phận xã TH, tỉnh HY để mua ma túy, loại Heroine về sử dụng. Khi đến khu vực nghĩa trang, C gặp 01 người đàn ông khoảng hơn 60 tuổi, C không biết tên, địa chỉ cụ thể của người này đang đứng tại đây nên C hỏi “để cho 100 nghìn tiền hàng” (ý của C là hỏi mua 100.000đ ma túy), C đưa cho người đàn ông này số tiền là 100.000 đồng. Người đàn ông này đồng ý sau đó đưa cho C 01 gói giấy bạc, C biết là ma túy, loại Heroine, C cầm gói ma tuý trong lòng bàn tay trái và tiếp tục đi bộ khoảng hơn 100m đến khu vực nghĩa trang thôn BH, xã TH, tỉnh HY thì bị Cơ quan Công an kiểm tra phát hiện trong lòng bàn tay trái C đang cầm gói giấy bạc, bên trong chứa chất màu trắng dạng cục và bột là ma túy, loại Heroine C vừa mua về để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang, thu giữ gói giấy bạc chứa ma tuý niêm phong ký hiệu M1 và đưa C về trụ sở làm việc.

Ngày 17/12/2025 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh HY khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Danh C tại thôn QT, xã TH, tỉnh HY, kết quả khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan.

Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh HY xét nghiệm ma túy đối với Trần Danh C bằng hình thức xét nghiệm nước tiểu. Kết quả C âm tính với ma tuý.

Tại bản Bản kết luận giám định số 2018/KL- KTHS, ngày 20/12/2025 của Phòng hình sự - Công an tỉnh HY kết luận: Chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong ký hiệu M1, có khối lượng là: 0,222g (Không phẩy hai hai hai gam), là ma túy, loại: Heroine (Heroin). Mẫu hoàn lại được niêm phong trong niêm phong ghi số 2018/KL- KTHS bên trong có 0,206g Heroine (Heroin); 01 mảnh giấy bạc và 01 vỏ niêm phong mẫu vật gửi giám định.

Tại bản Bản kết luận giám định số 3947/KL- KTHS, ngày 21/12/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận: Không tìm thấy chất ma tuý trong mẫu nước tiểu ghi thu của Trần Danh C.

Đối với người bán ma túy cho C, C khai không biết tên, tuổi, nhân thân lai lịch của người này. Do đó, Cơ quan điều tra không có đủ thông tin để xác minh, làm rõ.

Vật chứng thu giữ và xử lý vật chứng: 01 phong bì được niêm phong ghi số 2018/KL- KTHS bên trong có 0,206g Heroine; 01 mảnh giấy bạc và 01 vỏ niêm phong mẫu vật gửi giám định, hiện đang quản lý tại kho vật chứng Công an tỉnh HY.

Quá trình điều tra, bị cáo Trần Danh C đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với vật chứng thu giữ, lời khai người làm chứng và các tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án.

Bản cáo trạng số 91/CT-VKS-KV1 ngày 05/02/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 truy tố bị cáo Trần Danh C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025.

* Tại phiên tòa hôm nay: Bị cáo khai nhận nội dung diễn biến sự việc như bản Cáo trạng nêu là đúng, Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng tội, không oan sai. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị HĐXX: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bị cáo Trần Danh C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Danh C từ 03 năm 06 tháng đến 03 ba 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy cho tiêu hủy 0,206g Heroine; 01 mảnh giấy gói ma túy và 01 vỏ niêm phong mẫu vật gửi giám định.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm hình sự theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có tranh luận gì. Bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 xác định bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm một phần hình phạt.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về với gia đình, xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh HY, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về tội danh: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng ông Nguyễn Văn B2, anh Đào Văn S ( từ BL97 đến BL100) và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang (BL12 đến BL14); Biên bản niêm phong đồ vật (BL15); Kết luận giám định số 2018/KL-KTHS ngày 20/12/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh HY (BL39). Như vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 18 gời 30 phút ngày 17/12/2025, tổ công tác Công an xã TH, tỉnh HY, đang làm nhiệm vụ tại khu vực nghĩa trang nhân dân thôn BH, xã TH, tỉnh HY phát hiện bắt quả tang Trần Danh C có hành vi tàng trữ trong lòng bàn tay trái của C 01 gói giấy bạc, bên trong có chứa chất màu trắng dạng cục và bột là ma tuý, loại Heroine C vừa mua, mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự nên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng là có căn cứ và đúng pháp luật.

. Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất biệt dược gây nghiện được pháp luật hình sự bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo biết rõ tác hại của ma túy ảnh hưởng đến sức khỏe, kinh tế là nguyên nhân gây ra các loại tội phạm khác, bị cáo đã bị Toà án nhân dân thành phố HY xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, chưa được xóa án tích, bị cáo không lấy đó làm bài học rút kinh nghiệm mà vẫn cố tình tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật, thể hiện sự coi thường pháp luật. Do vậy, cần xét xử nghiêm minh và đưa ra mức hình phạt nhất định tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo mới có tác dụng răn đe giáo dục đối với bị cáo và có tính phòng ngừa chung.

. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét đến nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ đối với bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại bản án số 24/2024/HSST ngày 15/4/2024 bị Toà án nhân dân thành phố HY xử phạt bị cáo 01 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, chưa được xóa án tích nay lại phạm tội cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là "Tái phạm" quy định tại Điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa hôm nay, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; có bố đẻ được tặng Huân chương kháng chiến vẻ vang, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Từ những phân tích và nhận định như trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích và biết tuân thủ pháp luật, đáp ứng yêu cầu phòng ngừa tội phạm.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công ăn việc làm ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 phong bì được niêm phong ghi số 2018/KL- KTHS bên trong có 0,206g Heroine; 01 mảnh giấy bạc và 01 vỏ niêm phong mẫu vật gửi giám định, là vật cấm lưu hành cho tịch thu tiêu hủy.

. Về án phí: Bị cáo bị kết tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

. Các vấn đề khác: Đối với người bán ma túy cho C, C khai không biết tên, tuổi, nhân thân lai lịch của người này. Do đó, Cơ quan điều tra không có đủ thông tin để xác minh, làm rõ để lý là đúng pháp luật.

Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - HY tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt đối với bị cáo và các vấn đề khác cần giải quyết trong vụ án là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 2025.

2. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Danh C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

3. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Danh C 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 17/12/2025.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì được niêm phong ghi số 2018/KL- KTHS bên trong có 0,206g Heroine; 01 mảnh giấy bạc và 01 vỏ niêm phong mẫu vật gửi giám định. (Tình trạng số lượng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/02/2026 giữa Cơ quan CSĐT Công an tỉnh HY với Phòng thi hành án dân sự khu vực 1 - HY).

5. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Trần Danh C phải chịu 200.000đồng án phí sơ thẩm hình sự.

6. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Báo cho bị cáo biết được kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ