vanban.org

Bản án 47/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 1 Điều 256a, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự;

Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Trí C phạm tội Sử dụng trái phép chất ma túy. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Trí C - phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 256a, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2026/HS-ST
Ngày 06-02-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tạ Thị Nhàn

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hoàng Mạnh Sằn.

Bà Chu Thị Hậu

- Thư ký phiên tòa: Bà Tạ Phương Trang - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Huê - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 15/2026/TLST-HS, ngày 14 tháng 01 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2026/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 01 năm 2026, đối với bị cáo:

Phạm Trí C, sinh ngày: 12 tháng 6 năm 1972 tại tỉnh Lạng Sơn; căn cước công dân số: 020072010967; nơi cư trú và chỗ ở: Số XYZ, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Văn T và bà Nguyễn Thị T (đều đã chết); Vợ: Phùng Thị H; Con: Có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 23/10/2000 bị Tòa án nhân dân thị xã Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 36 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo Bản án số 69/HS-ST; ngày 01/09/2011 bị Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo Bản án số 131/2011/HS-ST (đều đã được xóa án tích); bị tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Lạng Sơn từ ngày 06/10/2025 đến nay. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Phạm Trí C là đối tượng đang tham điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế tại Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Lạng Sơn từ ngày 06/9/2025 đến ngày 05/10/2025, mã số bệnh nhân là: 0250010297.

Ngày 04/10/2025, Phạm Trí C đi bộ ra khu vực chợ G thuộc phường H, thành phố L (nay là phường K) tỉnh Lạng Sơn mua của 01 người phụ nữ (không rõ họ tên, địa chỉ) 30 cây anh túc với giá 800.000 đồng. Phạm Trí C mang cây anh túc về nhà ngâm rượu, một thời gian thì lọc rượu và bỏ vào một bình khác còn số cây anh túc bị cáo đã vứt đi. Khoảng 08 giờ, ngày 04/10/2025, trong lúc ăn sáng tại nhà, Phạm Trí C lấy rượu ngâm cây anh túc ra uống uống hết, vứt vỏ chai đi.

Chiều ngày 04/10/2025, Công an phường Lương Văn Tri triệu tập kiểm tra chất ma túy trong cơ thể của Phạm Trí C, kết quả dương tính với chất ma túy MOP.

Tại bản Kết luận giám định số 886/KL-KTHS ngày 08/10/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Mẫu nước tiểu thu được của Phạm Trí C tìm thấy chất ma túy Morphine.

Cáo trạng số 102/CT-VKSKV1 ngày 13/01/2026 của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn, truy tố bị cáo Phạm Trí C về tội Sử dụng trái phép chất ma túy, quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự, sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Trí C thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng truy tố.

Đại diện Viện kiểm nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Trí C phạm tội Sử dụng trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Trí C từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Trong lời nói sau cùng, bị cáo trình bày: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo rất hối hận, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm được trở về với gia đình, xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng, việc thu thập tài liệu, chứng cứ của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện, các tài liệu chứng cứ đã thu thập đều hợp pháp.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, biên bản sự việc và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có đủ căn cứ xác định: Phạm Trí C đang tham gia điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế tại Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Lạng Sơn. Ngày 04/10/2025, Phạm Trí C có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, uống rượu ngâm cây anh túc (do bị cáo tự đi mua cây anh túc về ngâm rượu).

Căn cứ vào Kết luận giám định số 866/KL-KTHS ngày 08/10/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn truy tố bị cáo Phạm Trí C về tội Sử dụng trái phép chất ma túy theo điểm a khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và biết rõ tác hại của ma túy ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người và là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, gây mất trật tự an toàn xã hội nhưng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân, bị cáo vẫn sử dụng trái phép chất ma túy.

Để có căn cứ quyết định hình phạt, ngoài việc đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cần xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo đã từng bị kết án về tội liên quan đến ma túy, tuy đều đã được xóa án tích nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng bản thân.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bố, mẹ đẻ của bị cáo là ông Phạm Văn T và bà Nguyễn Thị T được Nhà nước tặng Bảng gia đình vẻ vang do có một quân nhân chỗng Mỹ cứu nước. Do vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Từ những phân tích và đánh giá nêu trên, xét thấy, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Đối với người phụ nữ bán cây anh túc cho Phạm Trí C, do bị cáo không biết rõ họ tên, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân khu vực 1 - Lạng Sơn là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

Điểm a khoản 1 Điều 256a, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự;

Khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Trí C phạm tội Sử dụng trái phép chất ma túy.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Trí C 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/10/2025.

3. Về án phí: Bị cáo Phạm Trí C phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Phạm Trí C có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ