- Tranh chấp gì? án hình sự — "Loi Văn Thuận - phạm tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (điều 145 Luật sửa đ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lợi Văn T phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 145 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 47/2025/HSST Ngày 22/5/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH, TỈNH BÌNH THUẬN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Thanh Nữ Kiều Oanh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Ngọc Đổi
Bà Phạm Thị Bích Lệ
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Thành -Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Thu Vân - Kiểm sát viên.
Trong ngày 22 tháng 5 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, xét xử sơ thẩm kín vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 29/2025/HSST, ngày 04/4/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2025/QĐXXST-HS ngày 22/4/2025 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số: 19/TB-TA, ngày 19/5/2025 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình đối với bị cáo:
Lợi Văn T (tên gọi khác: không), sinh năm 2004; Nơi sinh: tỉnh Bến Tre
ĐKHKTT và chỗ ở hiện tại: Khu phố L, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Thuận; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 02/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Con ông Lợi Thanh M và bà Thông Thị Mỹ D; Anh chị em ruột có 03 người, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình; Vợ: Chưa có; Con: 01 người sinh năm 2023.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đang bị áp dụng cấm đi khỏi nơi cư trú và có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Nguyễn Hoàng Bảo H, sinh năm 2008
Thường trú: Khu phố L, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Thuận.
Tạm trú: Khu phố G, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai
Đại diện của bị hại: Ngô Thị Quốc H1, sinh năm 1990
Địa chỉ: Khu phố L, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Thuận.
Người làm chứng: Võ Thị L; có mặt; Bà Ngô Thị Phúc H2 mẹ của bị hại; có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lợi Văn T, sinh ngày 08/6/2004 và Nguyễn Hoàng Bảo H, sinh ngày 03/01/2008 cùng ở thị trấn L, huyện B quen biết nhau qua mạng xã hội Facebook vào khoảng tháng 8/2022, từ đó giữa T và H thường xuyên nói chuyện và tìm hiểu nhau, H nói với T biết là H 17 tuổi và T nói với H là T 19 tuổi. Đến ngày 21/01/2023, T và H hẹn gặp nhau tại 01 quán cafe (không rõ tên) lúc này T và H đang nảy sinh tình cảm yêu nhau. Do H với mẹ ruột của H xảy ra mâu thuẫn nên H không muốn về nhà của mình để ở mà H xin phép bà ngoại của T cho H về nhà bà ngoại của T là bà Võ Thị L để ở một thời gian. Trong thời gian H ở chung nhà với T và bà L thì đến ngày 06/02/2023, lợi dụng lúc bà L không có nhà thì T và H tự nguyện quan hệ tình dục với nhau nhưng không sử dụng biện pháp tránh thai, sau đó T và H tiếp tục quan hệ tình dục với nhau. Trong lúc ăn cơm chung với nhau, bà L phát hiện H có biểu hiện nôn ói nên đưa H đi khám và siêu âm thì phát hiện H có thai. Lúc này, bà L hỏi ra thì H và T cùng kể lại sự việc T và H yêu nhau và có quan hệ tình dục với nhau. Đến 03 giờ 20 phút ngày 18/11/2023, H sinh con Nguyễn Lợi A Khoa, nặng 3,3kg, sinh ở tuần thai 38 tại Bệnh viện Đ.
Ngày 26/12/2023, Nguyễn Hoàng Bảo H đến bộ phận Tư pháp – Hộ tịch của UBND thị trấn L để làm giấy khai sinh cho cháu K. Sau khi tiếp nhận hồ sơ, ông Nguyễn Việt T1 - Công chức tư pháp hộ tịch của UBND thị trấn L phát hiện H sinh con khi chưa đủ 16 tuổi nên đã trình báo Công an thị trấn L về vụ việc trên. Sau khi tiếp nhận vụ việc, Công an thị trấn L đã hoàn tất thủ tục, chuyển nguồn tin trên đến Cơ quan CSĐT Công an huyện B giải quyết theo thẩm quyền.
Căn cứ giấy khai sinh và giấy chứng sinh của Nguyễn Hoàng Bảo H (sinh ngày 03/01/2008,) từ đó xác định H khi quan hệ tình dục lần đầu với Lợi Văn T vào ngày 06/02/2023 thì vào thời điểm đó tuổi của H là 15 tuổi 01 tháng 03 ngày.
Tại Bản kết luận giám định số 874/KL-KTHS ngày 29/01/2024 của Phân Viện Khoa học Hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: “Cháu Nguyễn Lợi Anh K và anh Lợi Văn T có quan hệ huyết thống cha - con”.
Tại Bản kết luận giám định độ tuổi trên cơ thể người sống số 27/KLGĐĐT-PVPYQG ngày 12/9/2024 của P tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: “Qua quá trình khám giám định, kết quả cận lâm sàng, sự cốt hóa của các xương, xác định Lợi Văn T có độ tuổi từ 20 năm đến 25 năm, tại thời điểm giám định ngày 27/8/2024."
Từ đó, xác định tuổi của Lợi Văn T tại thời điểm giám định ngày 27/8/2024 là 20 năm tương ứng thời gian trước đó thì T thực hiện hành vi giao cấu với H vào ngày 06/02/2023, vào thời điểm đó tuổi của T đã được 18 tuổi 06 tháng 04 ngày.
Tại Cơ quan điều tra, Lợi Văn T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, Lợi Văn T và Nguyễn Hoàng Bảo H đều khai nhận từ lúc quan hệ tình dục lần đầu đến lúc H có thai thì giữa T và H đã quan hệ tình dục với nhau khoảng 10 lần, cụ thể: Lần 1 vào ngày 06/02/2023, lần 2 vào ngày 08/02/2023 và khoảng 08 lần quan hệ sau (không nhớ rõ ngày tháng), T và H đều vào phòng của bà L để thực hiện hành vi quan hệ tình dục và không áp dụng biện pháp tránh thai.
Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu và việc xử lý vật chứng: không
Về phần bồi thường dân sự: Đại diện bị hại Nguyễn Hoàng Bảo H không có yêu cầu gì nên không xem xét giải quyết.
Bản cáo trạng số 31/CT-VKS-BB ngày 22/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình truy tố bị cáo Lợi Văn T, về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo điểm a, đ khoản 2 Điều 145 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố và tranh luận vẫn giữ nguyên cáo trạng và đề nghị áp dụng: điểm a, d khoản 2 Điều 145; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Lợi Văn T từ 02 năm đến 03 năm tù.
Về phần xử lý tang vật chứng: Không xử lý.
Về phần dân sự: Tại phiên tòa hôm nay đại diện gia đình bị hại là bà Ngô Thị Quốc H1 đã nhận bồi thường tổn thất tinh thần số tiền 20.000.000 đồng từ bị cáo Lợi Văn T và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét giải quyết.
Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo đã biết hành vi của bị cáo là sai trái.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã biết hành vi của mình là sai trái, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm về với gia đình.
Đại diện hợp pháp của bị hại và bị hại: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo dưới mức thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan điều tra – Công an huyện B, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, bị hại và đại diện hơp pháp của bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại và tại phiên tòa bị cáo, bị hại và đại diện hơp pháp của bị hại cũng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.
Về hành vi của bị cáo Lợi Văn T: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận. Bị cáo và Nguyễn Hoàng Bảo H, sinh ngày 03/01/2008 cùng ở thị trấn L, huyện B quen biết nhau qua mạng xã hội khoảng 08/2022, H nói với bị cáo là H 17 tuổi và bị cáo nói với H là bị cáo 19 tuổi. Đến ngày 21/01/2023 bị cáo và H đang nảy sinh tình cảm yêu nhau. Hân xin phép bà ngoại của bị cáo cho H về nhà bà ngoại của bị cáo là bà Võ Thị L để ở một thời gian do H và mẹ xảy ra mâu thuẫn. Ngày 06/02/2023, lợi dụng lúc bà L không có nhà thì bị cáo và H tự nguyện quan hệ tình dục với nhau nhưng không sử dụng biện pháp tránh thai, sau đó bị cáo và H tiếp tục quan hệ tình dục với nhau. Bà L phát hiện H có biểu hiện nôn ói nên đưa H đi khám và siêu âm thì phát hiện H có thai. Lúc này, bà L hỏi ra thì H và bị cáo cùng kể lại sự việc bị cáo và H yêu nhau và có quan hệ tình dục với nhau. Đến 03 giờ 20 phút ngày 18/11/2023, H sinh con Nguyễn Lợi A Khoa.
Ngày 26/12/2023, H đến bộ phận Tư pháp – Hộ tịch của UBND thị trấn L để làm giấy khai sinh cho cháu K thì công chức tư pháp hộ tịch của UBND thị trấn L phát hiện H sinh con khi chưa đủ 16 tuổi nên đã trình báo Công an thị trấn L.
Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình truy tố bị cáo Lợi Văn T về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo quy định tại điểm a, d khoản 2 Điều 145 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo T thành khẩn khai báo, đã bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại và gia đình bị hại có đơn xin bãi nại cho bị cáo đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, được quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự có nơi cư trú rõ ràng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên áp dụng Điều 54 để xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.
Về tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo: Lợi Văn T đủ 18 tuổi đã nhiều lần (10 lần) thực hiện hành vi giao cấu với Nguyễn Hoàng Bảo H, khi H mới 15 tuổi 01 tháng 03 ngày theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 145 Bộ luật hình sự năm 2015 dẫn đến hậu quả nạn nhân có thai theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 145 Bộ luật hình sự năm 2015 đã phạm vào tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo quy định tại điểm a, d khoản 2 Điều 145 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Lợi Văn T có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội xâm phạm trực tiếp đến quyền được bảo vệ về thân thể, nhân phẩm, danh dự và sự phát triển bình thường về tâm sinh lý của trẻ em và người chưa thành niên, gây dư luận xấu trong nhân dân, làm ảnh hưởng đến đạo đức xã hội, thuần phong mỹ tục, phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc. Vì vậy, cần phải xử phạt nghiêm tương xứng với tính chất của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.
Đại diện hợp pháp của bị hại và bị hại cũng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Với tính chất mức độ phạm tội của bị cáo trên cơ sở cân nhắc các tình tiết của vụ án xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội xã hội một thời gian để bị cáo suy nghĩ về hành vi mà bị cáo đã thực hiện, đồng thời qua đó nhằm giáo dục và phòng ngừa chung.
Về xử lý vật chứng: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về phần bồi thường dân sự: Tại phiên tòa hôm nay đại diện gia đình bị hại là bà Ngô Thị Quốc H1 đã nhận bồi thường tổn thất tinh thần số tiền 20.000.000 đồng từ bị cáo Lợi Văn T và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điểm a, d khoản 2 Điều 145; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố bị cáo Lợi Văn T phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”
Xử phạt: Bị cáo Lợi Văn T 02 (Hai) năm tù, thời gian ở tù tính từ ngày chấp hành án.
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo, bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại có mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Thuận; - VKSND (tỉnh + huyện); - Công an tỉnh; - Chi cục THADS huyện; - Bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại; - Lưu HS. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Thanh Nữ Kiều Oanh |