vanban.org

Bản án 47/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Bùi Anh T phạm “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Bùi Anh T 01 (Một) năm tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (Hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Bùi Anh T cho Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Đồng Tháp giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "án vi phạm quy định về tham gia giao thông đượng bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ s…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Anh T phạm “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 - ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2025/HS-ST
Ngày 25-9-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Kim Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đỗ Thanh Hiền - Cán bộ hưu trí.

Bà Trần Ngọc Bảo Châu - Giáo viên trường Đoàn Giỏi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Liễu Hạnh là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tiến - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 33/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2025/QĐXXST- HS ngày 12 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo:

Bùi Anh T, sinh ngày 10 tháng 5 năm 2006 tại tỉnh Trà Vinh (Nay là tỉnh Vĩnh Long).

Số căn cước công dân: 084206006285, cấp ngày 29/5/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ C.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khóm A, Phường G, thành phố T, tỉnh Trà Vinh (Nay là Khóm A, phường N, tỉnh Vĩnh Long); Chỗ ở hiện nay: Ấp E, xã T, tỉnh Đồng Tháp (Trước đây là khu phố E, thị trấn M, huyện T, tỉnh Tiền Giang); nghề nghiệp học sinh; trình độ học vấn 12/12; dân tộc: Khơ - me; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Thiện T1 và bà Kim Thị Si P; chưa có vợ con; tiền án không, tiền sự không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Ông Bùi Thiện T1, sinh năm 1962 và bà Kim Thị Si P, sinh năm 1964; cùng nơi cư trú tại Ấp E, xã T, tỉnh Đồng Tháp là cha và mẹ bị cáo (Có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Trà Duy Linh, Luật sư Công ty L1 và bà Nguyễn Thị Tuyết Nga, Luật sư Văn phòng luật sư T2 thuộc Đoàn luật sư tỉnh Tiền Giang bào chữa cho Bùi Anh T. (Có mặt ông L, vắng mặt bà N).

- Bị hại:

1. Anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 1979 (Vắng mặt)

Trú tại: Ấp C, xã T, tỉnh Đồng Tháp.

2. Anh Huỳnh Quốc A, sinh ngày 16/01/2007 (đã chết).

- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Huỳnh Văn B, sinh năm 1969 (cha) và bà Lê Thị Ngọc Y, sinh năm 1985 (mẹ), cùng trú tại Ấp D, xã T, tỉnh Đồng Tháp. (Vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Bùi Thiện T1, sinh năm 1962 (Có mặt).

Trú tại: Ấp E, xã T, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Anh T là học sinh lớp 12 của trường trung học phổ thông T5, có giấy phép lái xe hạng A1 do Sở Giao thông vận tải tỉnh Trà Vinh (Nay là tỉnh Vĩnh Long) cấp ngày 10/6/2024, có giá trị không thời hạn. Khoảng 18 giờ ngày 21/11/2024, sau khi tan học, Bùi Anh T điều khiển xe mô tô 02 bánh biển số 84AA-096.33 một mình lưu thông trên đường T hướng từ xã T 1 đến xã H để về nhà.

Khi lưu thông đến đoạn thuộc Khu phố C, thị trấn M, huyện T, tỉnh Tiền Giang (Nay là ấp C, xã T, tỉnh Đồng Tháp), T thấy Huỳnh Quốc A điều khiển xe đạp điện lưu thông cùng chiều phía trước, cách khoảng 05 mét nên T điều khiển xe 84AA-096.33 sang phần đường bên trái theo hướng đi để vượt xe đạp điện của A. Khi vượt, T thấy xe mô tô 02 bánh biển số 63F8-9601 do anh Nguyễn Văn T3 điều khiển lưu thông ngược chiều cách khoảng 50 mét nên T điều khiển xe 84AA-096.33 sang phải trở lại phần đường đang lưu thông thì bánh xe trước, cụm đèn chiếu sáng bên phải của xe mô tô 02 bánh biển số 84AA-096.33 va chạm với đuôi chắn bùn, gác chân sau bên trái xe đạp điện do Huỳnh Quốc A đang điều khiển làm A và phương tiện ngã trên đường. Sau đó, xe 84AA - 096.33 do T điều khiển tiếp tục chạy sang phần đường bên trái va chạm vào đầu xe mô tô 02 bánh biển số 63F8-9601 do Nguyễn Văn T3 điều khiển lưu thông theo chiều ngược lại làm người và xe ngã xuống đường gây tai nạn. Hậu quả: Huỳnh Quốc A bị chấn thương nặng được đưa đến Bệnh viện Chợ Rẩy - thành phố Hồ Chí Minh cấp cứu và điều trị. Đến ngày 22/11/2024 thì tử vong. Bùi Anh T và Nguyễn Văn T3 bị thương nhẹ, 03 xe hư hỏng.

Cơ quan điều tra tiến hành khám nghiệm hiện trường được xác định như sau: Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn nằm trên đường T, đoạn thuộc Ấp C, xã T, tỉnh Đồng Tháp. Mặt đường được trải nhựa bằng phẳng, rộng 06 mét, có vạch phân tuyến không liên tục màu vàng ở giữa để phân chia thành hai chiều xe chạy, chạy dọc theo hướng Đ. Mặt đường nơi xảy ra tai nạn khô ráo, không chướng ngại vật, tầm nhìn không bị che khuất. Chọn tâm vạch phân tuyến không liên tục làm chuẩn, ký hiệu (A). Vùng va chạm giữa xe mô tô 02 bánh biển số 84AA - 096.33 và xe đạp điện là nằm trên phần đường hướng Nam, ký hiệu số 07. Tâm vùng cách A là 45 cm.

Theo biên bản khám nghiệm, xe 84AA - 096.33 bị hư hỏng như sau: Cánh bửng bên phải bị bung pass. Đèn xi nhan bên phải phía trước bị vỡ. Kính đèn tín hiệu phía trước bên phải bị vỡ. Gương chiếu hậu bên phải lệch khỏi vị trí ban đầu. Đầu ống pô để lại vết xước kim loại. Ốp ngoài pô để lại vết nứt và vết xước nhựa. Phía sau cánh bửng bên phải để lại vết xước nhựa. Gương chiếu hậu bên trái bị vỡ. Đầu tay côn bị gãy. Đầu tay cầm bên trái bị mài mòn cao su. Cánh bửng bên trái bị bung pass mài mòn và vỡ không rõ hình dạng. Đầu cần số bị cong theo chiều hướng từ ngoài vào trong. Đầu chống đứng bên trái và pass gác chân sau bên trái bị mài mòn kim loại. Đầu tay nâng bên trái để lại mài mòn kim loại không rõ hình dạng. Đèn tín hiệu sau bên trái bị vỡ. Ốp sườn sau bên trái bị mài mòn, bị vỡ.

Theo biên bản khám nghiệm, xe đạp điện bị hư hỏng như sau: Đuôi chắn bùn sau bị cong vào bên trong theo chiều hướng sau về trước. Gác chân sau bên trái bị vỡ nhựa, mài mòn kim loại và bị cong theo chiều hướng từ sau về trước. Cụm đèn chiếu sáng gãy, rơi ra khỏi vị trí ban đầu. Đầu càng thắng bên trái để lại vết trầy xước kim loại. Đầu tay cầm bên trái có vết mài mòn nhựa. Giỏ xe bị móp theo chiều hướng từ trước về sau. Đầu bàn đạp bên trái bị mài mòn nhựa. Chân chống đứng phía bên trái bị gãy.

Theo biên bản khám nghiệm, xe 63F8-9601 bị hư hỏng như sau: Gương chiếu hậu bên trái bị vỡ. Vành xe bị cong vênh, nan hoa xe gãy không rõ dạng. Ốp mũ phuộc xe bên phải phía trước bị vỡ. Công tắc đèn chiếu sáng đang mở. Tay thắng trước bên phải bị gãy.

Tại bản kết luận giám định tử thi số 400-2024/KLGĐTT-TTPY ngày 22/11/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Tiền Giang kết luận nguyên nhân tử vong của tử thi Huỳnh Quốc A như sau: Chấn thương sọ não kín do xuất huyết dưới màng cứng, dưới nhện toàn bộ hai bán cầu đại não. Xuất huyết quanh thể chai. Xuất huyết hai bán cầu tiểu não. Dập não. Phù não. Vỡ vòm sọ, sàng sọ do tai nạn giao thông.

Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 11-2025/KLTTCT-TTPY ngày 14/01/2025 của Trung tâm Pháp y tỉnh Tiền Giang kết luận tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Nguyễn Văn T3 là 08% (Tám phần trăm).

Tại bản kết luận giám định pháp y tâm thần của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Tây Nam Bộ đối với Bùi Anh T, kết luận như sau: Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội và hiện tại: Đương sự bị hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi.

Tại bản cáo trạng số 32/CT-VKSKV3 ngày 11 tháng 9 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Đồng Tháp truy tố bị cáo Bùi Anh T về “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, kiểm sát viên thực hành quyền công tố giữ nguyên cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Bùi Anh T phạm “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường thiệt hại, bị cáo là người bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, bị hại T3 có đơn xin bãi nại đối với bị cáo, gia đình bị cáo có công với cách mạng, hiện bị cáo đang theo học tại trường Cao đẳng Tiền Giang đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, s, q khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, Điều 32, Điều 38, Điều 50, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao, Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao xử phạt bị cáo Bùi Anh T từ 01 năm đến 02 năm tù cho hưởng án treo; Hình phạt bổ sung: Không áp dụng; Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại đã thoả thuận bồi thường xong, không có yêu cầu gì thêm nên không đặt ra xem xét; Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử trả lại bị cáo 01 giấy phép lái xe tên Bùi Anh T.

Tại phiên tòa, bị cáo T khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Người bào chữa phát biểu quan điểm bào chữa: Thống nhất về tội danh và điều luật áp dụng, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và phân tích thêm, trong vụ án có một phần lỗi của bị hại khi tham gia giao thông. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự xem xét để bị cáo có mức hình phạt dưới mức đề nghị của Kiểm sát viên.

Bị cáo T nói lời sau cùng: Bị cáo xin lỗi gia đình bị hại, xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có cơ hội tiếp tục học tập, làm công dân tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Phước, Cơ quan điều tra Công an tỉnh Tiền Giang (Nay là tỉnh Đồng Tháp), Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước (Nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Đồng Tháp), Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện của bị cáo, người bào chữa, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện của bị cáo, người bào chữa, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại đều không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu, kết luận giám định tử thi số 400-2024/KLGĐTT-TTPY ngày 22/11/2024 của Trung tâm Pháp y - Sở Y tế tỉnh Tiền Giang, kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 11-2025/KLTTCT-TTPY ngày 14/01/2025 của Trung tâm Pháp y - Sở Y tế tỉnh Tiền Giang, kết luận giám định pháp y tâm thần của Trung tâm Pháp y tâm thần khu vực Tây Nam Bộ. Kiểm sát viên cũng không có ý kiến đối với các kết luận giám định nêu trên.

Tại phiên tòa, bị cáo T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, biên bản khám nghiệm hiện trường, dựng lại hiện trường, khám nghiệm phương tiện, vật chứng thu giữ và các chứng cứ, tài liệu thu thập trong quá trình điều tra đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 18 giờ ngày 21/11/2024, trên đường T đoạn thuộc Khu phố C, thị trấn M, huyện T, tỉnh Tiền Giang (Nay là Ấp C, xã T, tỉnh Đồng Tháp), Bùi Anh T điều khiển xe 84AA-096.33 đã vượt xe không đúng quy định nên để xe mình đang điều khiển va chạm vào phía sau xe đạp điện do Huỳnh Quốc A điều khiển cùng chiều phía trước, sau đó xe 84AA-096.33 do Bùi Anh T điều khiển tiếp tục chạy sang phần đường bên trái va chạm vào đầu xe mô tô 02 bánh biển số 63F8-9601 do Nguyễn Văn T3 điều khiển lưu thông theo chiều ngược lại làm người và 03 xe ngã trên đường gây tai nạn, làm Huỳnh Quốc A tử vong và Nguyễn Văn T3 bị thương 08%.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm nghiêm trọng đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, tác động xấu đến tình hình trật tự trị an địa phương. Hành vi của bị cáo Bùi Anh T đã vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 14 của Luật Giao thông đường bộ, dẫn đến gây tai nạn va chạm với xe của bị hại Huỳnh Quốc A và bị hại Nguyễn Văn T3, hậu quả làm cho bị hại Huỳnh Quốc A tử vong, bị hại Nguyễn Văn T3 bị thương 08%, hư hỏng 03 phương tiện. Theo kết quả xét nghiệm, nồng độ cồn trong máu của Bùi Anh T vào ngày 21/11/2024 là 12,3 mg/100ml. Quá trình điều tra, bị cáo T khai không sử dụng rượu, bia trước khi xảy ra tai nạn. Cơ quan điều tra không chứng minh được bị cáo có sử dụng rượu, bia khi tham gia giao thông. Theo Quyết định số 320/QĐ-BYT của Bộ Y1 ngày 23/01/2014 về việc ban hành tài liệu “Hướng dẫn quy trình kỹ thuật chuyên ngành Hóa sinh” phần nhận định kết quả: Nồng độ cồn trong máu có trị số bình thường <10.9 mmol/l (Tương đương 50mg/100ml), nồng độ cồn trong máu của Bùi Anh T là 12,3 mg/100ml nằm trong trị số bình thường. Nên đủ căn cứ kết luận bị cáo Bùi Anh T phạm “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Về mặt ý thức chủ quan, bị cáo biết hành vi vượt xe không đảm bảo an toàn không chú ý quan sát là vi phạm quy định của Luật giao thông đường bộ nhưng vì chủ quan đã gây ra tai nạn làm cho bị hại A tử vong, bị hại T3 bị thương 08%, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây tổn hại tính mạng và tài sản của bị hại. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm bằng các chế tài của pháp luật hình sự, mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo bị hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi, bị cáo đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại theo yêu cầu của bị hại T3, đại diện hợp pháp của bị hại A, bị hại T3 có ý kiến bãi nại đối với bị cáo, cha của bị cáo là người có công với cách mạng, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Đồng thời xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, hiện tại bị cáo là sinh viên, theo học tại trường Cao đẳng Tiền Giang, nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện của bị cáo và gia đình bị hại Huỳnh Quốc A, bị hại T3 đã thỏa thuận được số tiền bồi thường và bị cáo đã bồi thường xong. Bị hại T3, người đại diện hợp pháp của bị hại A không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với xe mô tô 02 bánh biển số 63F8-9601 do anh Nguyễn Văn T3 đứng tên sở hữu bị hư hỏng sau tai nạn, anh T3 tự sửa chữa, không yêu cầu bị cáo T3 bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với xe đạp điện của Huỳnh Quốc A bị hư hỏng sau tai nạn, anh Huỳnh Văn B là cha ruột của A tự sửa chữa, không yêu cầu bị cáo T bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về vật chứng của vụ án: Trả lại cho bị cáo Bùi Anh T 01 (Một) giấy phép lái xe hạng A1 do Sở Giao thông vận tải tỉnh T (Nay là tỉnh Vĩnh Long) cấp ngày 10/6/2024 tên Bùi Anh T.

Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang (Nay là tỉnh Đồng Tháp) đã trao trả xe mô tô 02 bánh biển số 84AA-096.33 cho bị cáo Bùi Anh T là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật

Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang (Nay là tỉnh Đồng Tháp) đã trao trả xe mô tô 02 bánh biển số 63F8-9601 cho Nguyễn Văn T3 là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật.

Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang (Nay là tỉnh Đồng Tháp) đã trao trả 01 xe đạp điện bị hư hỏng sau tai nạn cho anh Huỳnh Văn B là cha ruột của Huỳnh Quốc A là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật.

Xét ý kiến của người bào chữa: Xét thấy, theo quy định tại khoản 2 Điều 14 của Luật Giao thông đường bộ: Xe xin vượt chỉ được vượt khi không có chướng ngại vật phía trước, không có xe chạy ngược chiều trong đoạn đường định vượt, xe chạy trước không có tín hiệu vượt xe khác và đã tránh về bên phải. Bị cáo vượt xe đối với bị hại A không đảm bảo an toàn, gây tai nạn làm bị hại A tử vong, lấn sang phần làn đường ngược lại, gây tai nạn làm bị hại T3 bị thương tích 08%. Hội đồng xét xử đã xem xét toàn bộ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, khung hình phạt, nhân thân của bị cáo và quyết định mức hình phạt 01 năm tù, cho hưởng án treo. Vì vậy, ý kiến của người bào chữa có một phần phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Xét ý kiến của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên toà phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Bùi Anh T phạm “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260, Điều 38, Điều 50, điểm b, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Căn cứ vào Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao về hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.

1. Xử phạt bị cáo Bùi Anh T 01 (Một) năm tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (Hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Bùi Anh T cho Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Đồng Tháp giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.

3. Xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Trả lại cho bị cáo Bùi Anh T 01 (Một) giấy phép lái xe hạng A1 do Sở Giao thông vận tải tỉnh Trà Vinh (Nay là tỉnh Vĩnh Long) cấp ngày 10/6/2024 tên Bùi Anh T.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18 tháng 9 năm 2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Tháp và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3, tỉnh Đồng Tháp).

4. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Bùi Anh T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo, người đại diện của bị cáo, người bào chữa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ