- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn T - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn T, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2025/HS-ST ngày 05/03/2025 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang về hình phạt đối với bị cáo Trần Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 47/2025/HS-PT Ngày: 27/5/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Đoàn Thị Thu Thúy
Các Thẩm phán: Bà Vũ Thị Yển; Bà Quách Thị Phương Thúy.
-Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Huyền - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thu Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 27/5/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 51/2025/TLPT-HS ngày 14/4/2025 đối với bị cáo Trần Văn T, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2025/HS-ST ngày 05/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương.
Bị cáo kháng cáo:
Trần Văn T, sinh năm 1999; tại: Huyện N; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn Đ, xã Ứ, huyện N, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn C và bà Bùi Thị P; vợ: Trần Thị N; có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú; vắng mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Cháu Phạm Hoàng K, sinh năm 2012 (đã chết).
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Anh Phạm Văn V, sinh năm 1987, chị Hoàng Thị H, sinh năm 1987. Đều có địa chỉ; Thôn Đ, xã Ứ, huyện N, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt tại phiên tòa.
Người có nghĩa vụ liên quan: Cháu Nguyễn Thị Thu H1 sinh ngày 27/10/2012; Địa chỉ: Thôn Đ, xã Ứ, huyện N, tỉnh Hải Dương. Người đại diện hợp pháp cho cháu H1 anh Nguyễn Quang S, sinh năm 1977; Địa chỉ: Thôn Đ, xã Ứ, huyện N, tỉnh Hải Dương. Cháu Mai Tuấn K1, sinh ngày 06/12/2012; Địa chỉ: Thôn Đ xã Ứ, huyện N, tỉnh Hải Dương. Người đại diện hợp pháp của cháu K1: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1993; Địa chỉ: Thôn Đ xã Ứ, huyện N, tỉnh Hải Dương. Đều vắng mặt tại phiên tòa.
NHẬN THẤY:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Văn T (không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định). Khoảng 20 giờ ngày 12/10/2024, sau khi ăn cỗ, uống rượu tại đám cưới gần nhà, (Kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu của T là 207,23mg/100ml). Thích điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu sơn đỏ - đen, biển số 34B1-552.40 đi từ nhà ra chợ Đ1, thuộc địa phận xã Ứ, huyện N mua nước uống. Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, T điều khiển xe mô tô trên đi từ chợ Đ1 theo đường liên xã để về nhà ở thôn Đ, xã Ứ. Khi về, T điều khiển xe đi với tốc độ khoảng 40km/h ở phần đường bên phải theo chiều đi từ chợ Đ1 đi thôn Đ (Thích không đội mũ bảo hiểm theo quy định). Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường thẳng hai chiều, mặt đường được trải bê tông nhựa, phẳng, khô, không có chướng ngại vật hay vật cản, tầm nhìn không bị hạn chế, rộng trung bình 770 cm, bề mặt giữa đường được kẻ vạch 1.1 đứt đoạn có chiều dài 200 cm, rộng 15 cm, khoảng cách giữa các vạch là 400 cm để phân chia hai dòng xe chạy ngược chiều nhau. Lề đường bên phải theo hướng đường QL37 đi thôn Đ là đất và cỏ rộng trung bình 100 cm, cao độ bằng mặt đường, lề đường bên trái là đất và cỏ rộng trung bình 100 cm. Hiện trường nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường vắng, không có nhà dân sinh sống xung quanh, không có camera giám sát, đường không có đèn điện chiếu sáng. Lúc này, T quan sát phía trước ngược chiều có xe ô tô do anh Mai Văn T1, sinh năm 1993 ở cùng thôn bật đèn chiếu sáng đi tới làm Thích bị quáng ánh đèn hạn chế tầm quan sát. Tuy nhiên, T vẫn điều khiển xe giữ nguyên tốc độ và hướng đi bình thường về phía trước. Khi đang di chuyển, Thích quan sát thấy phía trước cùng chiều, cách Thích khoảng 5m, thấy Nguyễn Thị Mai H2, Phạm Hoàng K, Nguyễn Thị Thu H1, Mai Tuấn K1 đều sinh năm 2012 cùng ở thôn Đ, xã Ứ đi xe đạp từ hướng chợ Đọ về thôn Đ, nhóm này di chuyển phía trước theo chiều đi của T. Trong đó, H1 điều khiển xe đạp nhãn hiệu DTZ2000 đi trước, tiếp đến cháu Mai H2 điều khiển xe đạp nhãn hiệu GALAXY chở K đi sau H1, K1 điều khiển xe đạp đi sau cùng. Thấy vậy, Thích bóp cả hai phanh trước, sau để giảm tốc độ nhưng phần đầu xe, bánh xe phía trước xe mô tô vẫn đâm vào đuôi xe đạp do H2 điều khiển chở K làm xe đạp của H2 bị gãy vành bánh sau, H2, K bị ngã ra phía lề đường bên phải chiều đi. Ngay sau va chạm, H2 ngồi dậy, K bất tỉnh, đầu quay hướng chợ Đ, chân quay hướng đi thôn Đ, xe mô tô của T tiếp tục va chạm vào đuôi xe đạp do H1 điều khiển làm xe mô tô của T đổ đè lên xe đạp của H1, xe đạp và xe mô tô của T nằm ở giữa phần đường bên phải theo chiều đi, H1 bị ngã ngồi trên mặt đường, không bị thương tích, T bị thương nằm bất tỉnh tại vị trí đuôi xe máy đổ, đầu quay hướng tim đường, chân quay hướng mép đường bên phải chiều đi. Hậu quả: cháu Phạm Hoàng K bị chấn thương sọ não được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện H3 - Hà Nội đến 6 giờ 30 phút ngày 14/10/2024 cháu K tử vong tại gia đình; cháu Nguyễn Thị Mai H2 bị thương xây xát da nhẹ không điều trị tại cơ sở y tế nào; cháu Nguyễn Thị Thu H1 không bị thương tích gì; Trần Văn T bị thương cấp cứu, điều trị tại bệnh viện Đa khoa tỉnh H xuất viện ngày 21/10/2024; các phương tiện bị hư hỏng nhẹ.
Tại Bản kết luận giám định tử thi số 320/KLGĐTT-KTHS của Phòng K3 Công an tỉnh H, kết luận: Nguyên nhân tử vong của cháu Phạm Hoàng K2: Chấn thương sọ não (vỡ xương hộp sọ).
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2025/HS-ST ngày 05/03/2025, Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang đã quyết định: Áp dụng điểm a,b khoản 2, Điều 260, điểm s, b khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Xử phạt bị cáo Trần Văn T 03(ba) năm 03( ba) tháng tù, thời hạn tính từ ngày bắt thi hành án. Ngoài ra bản án còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo đối với bị cáo và người tham gia tố tụng khác.
Ngày 10/03/2025, bị cáo Trần Văn T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo vắng mặt, tại đơn xin vắng mặt giữ nguyên kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo.
Đại diê ̣n Viê ̣n kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phân tích tính chất, mứ c đô ̣ hành vi phạm tô ̣ i, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo. Sửa bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Trần Văn T . Xử phạt bị cáo T từ 24 – 27 tháng tù, thời hạn tính từ ngày bắt thi hành án. Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
XÉT THẤY:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (viết tắt HĐXX) nhận định như sau:
Về tố tụng: Bị cáo kháng cáo trong thời gian luật định nên kháng cáo hợp lệ. Tại phiên tòa bị cáo vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vắng mặt bị cáo.
Về nội dung: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, phương tiện, bản kết luận giám định pháp y, lời khai người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ 30’ ngày 12/10/2024 tại đường liên xã thuộc địa phận thôn Đ, xã Ứ, huyện N, tỉnh Hải Dương, Trần Văn T (không có giấy phép lái xe theo quy định, trong tình trạng đã sử dụng rượu bia với nồng độ cồn 207,23mg/100ml máu) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu đen-đỏ, biển số 34B1-552.40 đi hướng chợ Đ1 đi thôn Đ trong điều kiện trời tối, tầm nhìn bị hạn chế do bị quáng ánh đèn xe ngược chiều, T đã không giữ khoảng cách an toàn với xe đi phía trước, không làm chủ tốc độ dẫn tới va chạm vào đuôi xe đạp do cháu Nguyễn Thị Mai H2 điều khiển đi phía trước cùng chiều sau xe chở cháu Phạm Hoàng K. Sau đó, xe mô tô do T điều khiển tiếp tục va chạm vào đuôi xe đạp do cháu Nguyễn Thị Thu H1 điều khiển đi phía trước cùng chiều. Hậu quả: cháu Phạm Hoàng K bị chấn thương sọ não cấp cứu tại bệnh viện H3 đến 6 giờ 30 phút ngày 14/10/2024 cháu K tử vong tại gia đình.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, xâm phạm đến tính mạng của người dân Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, không có giấy phép lái xe theo quy định, sử dụng rượu không đủ điều kiện để điều khiển phương tiện nhưng vẫn tham gia giao thông. Khi tham gia giao thông không giữ khoảng cách an toàn với xe đi phía trước, không làm chủ tốc độ dẫn đến va chạm với 2 xe đạp đi cùng chiều phía trước. Hậu quả một người bị chết. Do đó hành vi của bị cáo đã đủ dấu hiệu cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội danh và điều luật như trên là đúng người, đúng tội.
Xét kháng cáo của bị cáo Thích xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo, HĐXX xét thấy: Cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh giá đầy đủ tính chất hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xử phạt bị cáo 3 năm 3 tháng tù là có căn cứ. Tuy nhiên xét thấy bị có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đã bồi thường cho đại diện bị hại để khắc phục hậu quả. Nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông có yếu tố khách quan là do xe đi ngược chiều bật đèn chiếu xa dẫn đến bị cáo bị quáng đèn. Người bị hại điều khiển xe đạp (xe thô sơ) không đi sát mép đường bên phải theo quy định (điểm va chạm ở vị trí cách mép đường 1,9m). Do vậy xác định bị hại cũng có một phần lỗi khi tham gia giao thông. Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo tự nguyện nộp trước tiền án phí sơ thẩm nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Trong vụ tai nạn giao thông bản thân bị cáo cũng bị thương tích phải đi điều trị, vợ chồng bị cáo đều không có nghề nghiệp ổn định, con nhỏ, hoàn cảnh gia đình khó khăn. Tuy nhiên hậu quả do hành vi của bị cáo gây ra là nghiêm trọng nên không chấp nhận kháng cáo của bị cáo về việc xin được hưởng án treo. Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giảm hình phạt cho bị cáo. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để xử bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.
Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận một phần nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét, do đó có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn T, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2025/HS-ST ngày 05/03/2025 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang về hình phạt đối với bị cáo Trần Văn T.
1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
Áp dụng: Điểm a,b khoản 2, Điều 260, điểm s,b khoản 1, 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Trần Văn T 24 (hai mươi tư) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2. Về án phí phúc thẩm: Bị cáo Trần Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, cấp phúc thẩm không xem xét đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật từ ngày tuyên án, ngày 27/5/2025.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hải Dương; - Vụ GĐKT1-TANDTC; - Phòng HSNV-CA tỉnh HD; - TAND huyện Ninh Giang; - VKSND huyện Ninh Giang; - Chi cục THADS huyện Ninh Giang; - Bị cáo; - Đại diện bị hại; - Người liên quan; - Lưu hồ sơ; - Lưu Tòa. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đoàn Thị Thu Thúy |