vanban.org

Bản án 47/2024/HSST — Hình sự

TAND huyện Thanh Trì, TP. Hà Nội Tuyên án 04/04/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 36 ( Ba mươi sáu) tháng tù, về tội Mua bán trái phép chất ma túy.

* Hình phạt bổ sung: Miễn phạt tiền cho bị cáo. * Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? * Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 36 ( Ba mươi sáu) tháng tù, về tội Mua bán trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH TRÌ
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2024/HSST
Ngày 04 tháng 4 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tâm

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hoàng Văn Long

2. Ông Vũ Văn Định

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuỳ Liên - Cán bộ Tòa án.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tham gia phiên tòa:

Ông Tô Xuân Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 4 năm 2024, tại phòng trực tuyến - trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội- Phòng trực tuyến Trại tạm giam số 1- Công an thành phố Hà Nội, xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 30/2024/HSST ngày 19/3/2024 và theo Quyết định đưa ra xét xử số: 30/QĐXX-ST ngày 19 tháng 03 năm 2024 đối với bị cáo:

NGUYỄN VĂN T; sinh năm 1990;Giới tính: Nam; HKTT: Xóm 4, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định; Chỗ ở: không cố định; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Không; Dân tộc: Kinh; Con ông: Nguyễn Văn H và bà Phan Thị L; Bị cáo là con thứ3 trong gia đình có 03 anh chị em; TATS: không

Bị bắt quả tang ngày 21/12/2023, Hiện đang bị áp dụng biện pháp tạm giam tại trại tạm giam số 2 – Công an thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ và quá trình xét hỏi tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do bản thân nghiện ma túy nên khoảng 9 giờ 30 phút ngày 21/12/2023, Nguyễn Văn T đi bộ từ nhà thuê trọ ở thôn T, xã T, huyện T, Hà Nội đến khu vực cầu V, thị trấn V, huyện T, Hà Nội để tìm mua ma túy mang về bán lại để kiếm lời. Tại đây, T gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói nilon màu đen bên trong chứa ma túy Heroin với giá 200.000 đồng. Mua xong, T cất giữ gói ma túy vừa mua được vào túi quần bên phải đang mặc rồi đi bộ về hướng cầu T, xã T, huyện T, Hà Nội để bán lại gói ma túy vừa mua được với giá 250.000 đồng (T được hưởng lợi 50.000 đồng).

Hồi 10 giờ 30 phút ngày 21/12/2023, tổ công tác Công an xã T- Công an huyện Thanh Trì làm nhiệm vụ tại cầu T, xã T, huyện T, Hà Nội phát hiện Nguyễn Văn T đang đi bộ có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra hành chính, phát hiện trong túi quần bên phải T đang mặc có 01 gói nilon màu đen bên trong chứa chất bột màu trắng. Tại chỗ, T khai nhận gói nilon màu đen bên trong chứa chất bột màu trắng là ma túy heroine T vừa mua để bán lại để kiếm lời nên Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong tang vật đồng thời đưa T về trụ sở làm việc.

Cùng ngày, Cơ quan CSĐT – Công an huyện Thanh Trì đã tiến hành trưng cầu giám định gói ma túy đã thu giữ của Nguyễn Văn T khi bắt quả tang.

Tại bản kết luận giám định số 8619/KL-KTHS ngày 28/12/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận:

“Chất bột màu trắng bên trong 01 gói ni lông màu đen là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng 0,204 gam.”

Cơ quan giám định đã sử dụng 0,022 gam Heroine trong tổng số 0,204 gam để làm mẫu giám định, còn lại 0,182 gam Heroine hoàn trả cho Cơ quan CSĐT – Công an huyện Thanh Trì.

Kết quả xét nghiệm ma túy trong cơ thể của Thương xác định: T dương tính với ma túy.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Văn T khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai của T phù hợp với các tài liệu do Cơ quan điều tra thu thập được. Đây là lần đầu tiên T đi mua ma túy nhằm bán lại kiếm lời.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho T, do T khai nhận không biết tên tuổi, địa chỉ và đặc điểm nhận dạng của người này nên Cơ quan Điều tra không có căn cứ để xử lý.

Tại bản cáo trạng số 27/CT-VKS ngày 12/03/2024 của Viện kiểm sát nhân huyện Thanh Trì truy tố Nguyễn Văn T về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1, Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 bổ sung năm 2017.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo đã kết luận giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1, Điều 251; Điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T mức án từ 26 tháng đến 30 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Miễn phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

* Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử xử áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị: Tịch thu tiêu huỷ 0,204 gam Heroin (sử dụng giám định 0,022 gam – còn lại 0,182 gam Heroin)

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận như đã khai tại cơ quan điều tra, bị cáo thừa nhận Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng hành vi mà bị cáo đã thực hiện.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thanh Trì, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo Nguyễn Văn T phiên tòa với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng, kết luận giám định về tang vật thu giữ của bị cáo và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Hồi 10 giờ 30 phút ngày 21/12/2023 tại khu vực cầu T, xã T, huyện T, Hà Nội, khi Nguyễn Văn T đang cất giữ 01 gói nilon màu đen bên trong chứa ma túy loại Heroine có khối lượng 0,204 gam với mục đích để bán và kiếm lời số tiền 50.000 đồng thì bị tổ công tác Công an xã T – Công an huyện Thanh Trì bắt quả tang và thu giữ tang vật. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội, “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1, Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 bổ sung năm 2017.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma tuý, làm lan truyền tệ nạn xã hội, ảnh hưởng sức khoẻ con người, là nguyên nhân dẫn đến những vi phạm pháp luật khác, tác động xấu tới tình hình trật tự trị an xã hội ở địa phương. Bị cáo là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự có đầy đủ năng lực hành vi, có hiểu biết pháp luật nhưng đã cố tình phạm tội. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Nguyễn Văn T chưa có tiền án, tiền sự nên không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải. nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s, khoản 1,Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 .

Do bị cáo không có việc làm ổn định, không có thu nhập kinh tế ổn định nên miễn phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Hội đồng xét xử áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử lý vật chứng như sau:

Tịch thu tiêu huỷ 0,204 gam Heroin ( sử dụng giám định 0,022 gam – còn lại 0,182 gam Heroin).

Số vật chứng trên hiện đang nhập kho vật chứng Cơ quan thi hành án dân sự huyện Thanh Trì, theo phiếu nhập vật chứng số 24 ngày 12 tháng 3 năm 2024

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định tại Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự ,điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ; khoản 1, mục I phần A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 313, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Khoản 1 Điều 251; Điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Căn cứ: Điều 106; Điều 135, Điều 331; Điều 332; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a ,khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, Nghị quyết của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; khoản 1 mục I phần A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.

* Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 36 ( Ba mươi sáu) tháng tù, về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ ngày 21/12/2023.

* Hình phạt bổ sung: Miễn phạt tiền cho bị cáo.

* Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì dán kín trên các mép có các chữ ký của Nguyễn Văn T (bên trong còn lại 0,182 gam ma túy loại Heroin theo quyết định chuyển vật chứng số 24 ngày 12/3/2021).

Số vật chứng trên hiện đang nhập kho vật chứng Cơ quan thi hành án dân sự huyện Thanh Trì, theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 29 tháng 3 năm 2024).

* Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ