- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Minh T - Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 47/2024/HSST Ngày: 26/6/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Thùy Trang
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Vũ Thị Thuỳ Dương
2. Ông Nguyễn Thanh Không
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thái Học - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: bà Phạm Thị Diệp - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 53/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Minh T, sinh năm 1987, tại Đồng Nai; Nơi đăng ký thường trú và chổ ở: ấp S, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 03/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Minh C, sinh năm 1951 (đã chết) và bà Châu Thị K, sinh năm 1959; Bị cáo có vợ là Trịnh Thị L, sinh năm 1990 và có 02 con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/4/2024 cho đến nay.
(Bị cáo có mặt tại đầu cầu trực tuyến Nhà tạm giữ Công an huyện C).
- Người chứng kiến: anh Hồ Sỹ Á, sinh năm: 1992.
Nơi cư trú: ấp L, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Minh T là đối tượng sử dụng ma tuý nên vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 07/4/2024, T đi bộ từ nhà đến khu vực đền T2 thuộc ấp S, xã X, huyện C gặp một người đàn ông tên thường gọi là T1 (không rõ nhân thân, lai lịch) để mua ma túy về sử dụng. Tại đây, T hỏi mua ma túy thì T1 đồng ý và bán cho T 04 bịch ma túy với giá 500.000 đồng. Sau đó, T mang ma túy về nhà, lấy một ít ma túy vừa mua để sử dụng, số còn lại T để trên tấm nệm nơi T nằm ngủ để sử dụng dần. Đến khoảng 11 giờ ngày 08/4/2024, Công an xã X, huyện C tiến hành kiểm tra hành chính tại nơi T ở, phát hiện và bắt quả tang T đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ 04 bịch ma túy cùng 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy.
Tại Bản kết luận giám định số 746/KL-KTHS ngày 15 tháng 4 năm 2024, Phòng K1 Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,4364 gam, loại Methamphetamine.
Tại Cáo trạng số 55/CT-VKSCM ngày 04 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Nguyễn Minh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Minh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T mức án từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù; Về vật chứng vụ án: đề nghị tịch thu tiêu hủy một phong bì niêm phong ma túy có hình dấu mộc đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh Đ số 746/KL-KTHS và một bộ dụng cụ để sử dụng ma túy. Đối với đối tượng tên T1, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án: Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Để có ma túy sử dụng, vào ngày 07/4/2024 bị cáo dùng số tiền 500.000 đồng mua 0,4364 gam ma túy, loại M đem về nhà cất giấu để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ. Hành vi của bị cáo Nguyễn Minh T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Xét tính chất mức độ của hành vi phạm tội, hành vi của bị cáo thực hiện rất nguy hiểm, bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái pháp chất ma túy không những xâm phạm đến tính độc quyền về quản lý chất ma túy của Nhà nước mà còn là nguồn gốc phát sinh các loại tội phạm khác, gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự tại địa phương. Nên cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để tiếp tục cải tạo, giáo dục đồng thời để răn đe và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự được xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Đối với đối tượng tên T1, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau.
Về các biện pháp tư pháp: tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong mẫu vật sau giám định số 746/KL-KTHS ngày 15 tháng 4 năm 2024 có hình dấu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh Đ là vật nhà nước cấm lưu hành và 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Xét quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ là phù hợp với nhận định trên nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/4/2024.
2. Về các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy một phong bì niêm phong mẫu vật sau giám định số 746/KL-KTHS ngày 15 tháng 4 năm 2024 có hình dấu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh Đ và 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma tuý.
Các vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Mỹ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/6/2024.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - VKSND huyện Cẩm Mỹ; - CQCSĐT, NTG CA h.Cẩm Mỹ; - Chi cục THADS huyện Cẩm Mỹ; - Bị cáo; - Bộ phận THA Hình sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Thùy Trang |