vanban.org

Bản án 47/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 08/03/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị cáo Đỗ Tú T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Đỗ Tú T 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13-10-2023. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Tú Tài - Mua bán ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Bị cáo Đỗ Tú T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 251 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. VŨNG TÀU
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2024/HS-ST
Ngày: 08-3-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Phượng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Tám.

2. Ông Đặng Song Hoàn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Quỳnh - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hương – Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 04/2024/HSST ngày 05 tháng 01 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2024/QĐXX–HS ngày 21 tháng 02 năm 2024, đối với bị cáo:

Đỗ Tú T (tên gọi khác: Không), sinh năm 1997, tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; nơi đăng ký thường trú: Số 82/17 đường T, Phường B, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nơi tạm trú: Phòng trọ không số, địa chỉ số 133/1 Đ, Phường B, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Chỗ ở: phòng trọ số 07, địa chỉ số 653 đường T, Phường B, thành phốV, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ văn hoá: 09/12; Nghề nghiệp: Không; Cha: Không rõ và mẹ Đỗ Thị Ngân, sinh năm: 1969; bị cáo là con thứ nhất trong gia đình có 02 anh em.

Tiền án, tiền sự: Không có.

Bị bắt ngày 13-10-2023, hiện đang bị tam giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 13 tháng 10 năm 2023, tại trước chung cư GoldSea địa chỉ số 172 đường H, Phường H, thành phố V, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Vũng Tàu phối hợp cùng Công an Phường H, thành phố V, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu và lực lượng Phòng chống tội phạm Bộ tư lệnh Vùng cảnh sát biển 3 phát hiện bắt quả tang Đỗ Tú T đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (Ketamine và MDMA) để bán cho người nghiện ma túy, đồng thời thu giữ vật chứng của vụ án. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Vũng Tàu tiến hành khám xét nơi ở của Đỗ Tú T tại phòng trọ số 7, địa chỉ số 653/1 đường T, Phường B, thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, phát hiện Đỗ Tú T đang tàng trữ trái phép chất ma túy (loại Ketamine) để bán cho người nghiện ma túy.

Quá trình điều tra, Đỗ Tú T khai nhận: Khoảng một tuần trước khi bị bắt quả tang, một người tên S (không rõ nhân thân lai lịch) là người quen biết ngoài xã hội với T cung cấp ma túy cho T cất giấu, khi nào có khách cần mua sẽ yêu cầu T lấy ma túy đi bán (giao). Tùy vào đơn hàng bán ma túy cho khách thì sẽ được S trả công cho số tiền 300.000 đồng đến 500.000 đồng. Sau khi bán được ma túy, Tài chuyển tiền qua tài khoản cho S “số tài khoản 0798399179 tại ngân hàng MB BANK, tên chủ tài khoản là NGUYEN THANH S”. Khi nhận ma túy của S để mang đi bán, T đem về cất giấu tại phòng trọ số 7, địa chỉ số 653/1 đường T, Phường B, thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Vào khoảng 14 giờ 00 phút, ngày 13 tháng 10 năm 2023, khi T đang ở phòng trọ thì có một người phụ nữ tên Mai L (không rõ nhân thân lai lịch) điện thoại qua ứng dụng zalo cho Tài hỏi mua 01 (một) gói ma túy khay và 02 ( hai) viên ma túy thuốc lắc với số tiền 3.800.000 đồng (ba triệu tám trăm nghìn đồng). Tài đồng ý và hẹn đến trước Chung cư Gold Sea địa chỉ số 172 đường H, Phường H, thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu để bán ma túy. T lấy 01 (một) gói ma túy khay và 02 (hai) viên thuốc lắc cất giấu trong phong bì thư màu trắng bỏ vào trong túi nylon. Sau đó, T gọi điện thoại cho Võ Thị Bích N (sinh năm:1999; Nơi cư trú: thôn Hiệp N, xã Tân T, huyện H, tỉnh Bình Thuận) là bạn gái của Tài, nói đem xe máy về để T đem đồ cho bạn. Khoảng 20 phút sau, N điều khiển xe máy biển số 72C2 – 436.61 về phòng trọ, T lấy ma túy treo trước xe máy rồi chở N đến trước chung cư Gold Sea. Đến khoảng 15 giờ 30 phút khi T đứng trước Chung cư Gold Sea chờ để bán ma túy thì bị lực lượng chức năng bắt quả tang, thu giữ vật chứng như trên.

Tại Cơ quan Công an, Đỗ Tú T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên. Lời khai của Đỗ Tú T phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang (bút lục điều tra số 21, 22), biên bản khám xét (bút lục điều tra số 27,28) phù hợp với lời khai của người chứng kiến là anh Nguyễn Văn M (bút lục điều tra số 82) và phù hợp với chứng cứ thu thập được.

Tại Bản kết luận giám định số 436/KL-KTHS-MT ngày 20-10-2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Kết Luận:

+ 01 (một) gói nylon hàn kín chứa chất bột màu trắng (kí hiệu mẫu A1), gửi giám định có khối lượng 1,5139 gam, là ma túy, loại Ketamine;

+ 02 (hai) viên nén màu cam, không rõ hình dạng (kí hiệu mẫu A2), gửi đến giám định có khối lượng 0.9182 gam, là ma túy, loại MDMA.

+ Một phong bì màu trắng, có hình dấu của Công an Phường 7 - CATP Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, cùng các chữ ký ghi họ tên: thiếu tá Nguyễn Thị Thùy T1, Nguyễn Văn T2, Đỗ Tú T, Dương Thị Mộng T3, bên trong có 03 ( ba) gói nylon hàn kín chứa chất rắn màu trắng ( Ký hiệu mẫu A3) gửi đến giám định có khối lượng là 3,3948 gam là ma túy, loại Ketamine.

(Bút lục điều tra số 37)

Đỗ Tú T tàng trữ 0.9182 gam, là ma túy, loại MDMA và 4,9087 gam, là ma túy, loại Ketamine, đây là chất ma túy khác ở thể rắn, nhằm mục đích bán cho con nghiện. Cả hai chất ma túy này đều có khối lượng dưới mức tối thiểu đối với từng chất quy định tại khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Do đó, áp dụng khoản 2 Điều 5 Nghị định 19/2018 ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích các chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự, xác định tổng tỷ lệ phần trăm của các chất ma túy trên như sau:

- Tỷ lệ phần trăm về khối lượng của MDMA so với mức tối thiểu đối với MDMA được quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự là 18,364% (0.9182 gam so với 05 gam).

- Tỷ lệ phần trăm về khối lượng của Ketamine so với mức tối thiểu đối với Ketamine (chất ma túy khác ở thể rắn) được quy định tại điểm n khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự là 24,5435% (4,9087 gam so với 20 gam).

Tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng của 02 chất ma túy MDMA với Ketamine: 18,364% + 24,5435% % = 42,9075%.

Như vậy, theo hướng dẫn tại khoản 2 Điều 5 Nghị định 19/2018 ngày 02-02-2018, tổng khối lượng ma túy trên thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Việc thu giữ và xử lý vật chứng, tài sản:

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

Cơ quan chức năng tiến hành thu giữ vật chứng, tài sản gồm:

- 01 phong bì màu trắng bên trong có chứa 01 (một) gói nylon dạng túi zip chứa chất rắn màu trắng, sau giám định có khối lượng là 1,5139 gam, là ma túy, loại Ketamine.

- 01 (một) gói nylon dạng túi zip bên trong chứa 02 (hai) viên nén màu cam không rõ hình dạng, qua giám định có khối lượng 0.9182 gam, là ma túy, loại MDMA.

- 01 (một) gói nylon bên trong chứa 03 (ba) gói chứa chất kết rắn màu trắng, qua giám định có khối lượng là 3,3948 gam là ma túy, loại Ketamine.

Sau giám định hoàn lại hai phong bì niêm phong số 436 ngày 20-10-2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu cảm ứng màu xanh, đã qua sử dụng chưa rõ tình trạng bên trong, số imei: 866314059500452.

Hiện chuyển đến Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Vũng Tàu quản lý, chờ xử lý.

- 01 (một) xe máy màu đen, hiệu Honda, loại xe Vision, BKS:72C2-436.61, Số khung: RLHJK0319MZ070178; Số máy: JK03E-5276405. Qua xác minh, chủ sở hữu là của bà Đỗ Thị N1 (sinh năm: 1969; trú tại số 133/1 đường Đ, phường B, thành phố V), bà N1 không biết việc T dùng xe để đi giao ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Vũng Tàu đã ra quyết định trả lại chiếc xe trên cho bà N1. (bút lục điều tra số 47)

Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình, xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Vũng Tàu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Căn cứ lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa, đối chiếu lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, tang vật bị thu giữ, bản kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:

Vào khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 13 tháng 10 năm 2023, tại trước chung cư GoldSea địa chỉ số 172 đường H, Phường H, thành phố V, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, lực lượng chức năng bắt quả tang Đỗ Tú T đang tàng trữ khối lượng 1,5139 gam, là ma túy, loại Ketamine và 0.9182 gam, là ma túy, loại MDMA để chờ bán cho người nghiện ma túy đồng thời thu giữ toàn bộ vật chứng. Qua khám xét, tại phòng trọ số 7, địa chỉ số 653/1 đường T, Phường B, thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu là nơi ở của Đỗ Tú T, phát hiện T đang tàng trữ trái phép 3,3948 gam là ma túy, loại Ketamine, T tàng trữ nhằm mục đích để bán cho người nghiện ma túy. T bán ma túy với mục đích kiếm lời.

Đỗ Tú T tàng trữ 0.9182 gam, là ma túy, loại MDMA và 4,9087 gam, là ma túy, loại Ketamine, đây là chất ma túy khác ở thể rắn, nhằm mục đích bán cho con nghiện. Cả hai chất ma túy này đều có khối lượng dưới mức tối thiểu đối với từng chất quy định tại khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Do đó, áp dụng khoản 2 Điều 5 Nghị định 19/2018 ngày 02-02-2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích các chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự, xác định tổng tỷ lệ phần trăm của các chất ma túy trên như sau: Tỷ lệ phần trăm về khối lượng của MDMA so với mức tối thiểu đối với MDMA được quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự là 18,364% (0.9182 gamso với 05 gam); Tỷ lệ phần trăm về khối lượng của Ketamine so với mức tối thiểu đối với Ketamine (chất ma túy khác ở thể rắn) được quy định tại điểm n khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự là 24,5435% (4,9087 gam so với 20 gam); Tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng của 02 chất ma túy MDMA với Ketamine: 18,364% + 24,5435% % = 42,9075%. Như vậy, theo hướng dẫn tại Khoản 2 Điều 5 Nghị định 19/2018 ngày 02/02/2018, tổng khối lượng ma túy trên thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Vì vậy, hành vi của bị cáo T đã thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ, đúng người đúng tội đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến việc quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, hành vi của bị cáo là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội khác, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức rõ việc mua bán ma túy gây tác hại vô cùng nghiêm trọng trong xã hội, là nguyên nhân phát sinh tệ nạn nghiện, hút ma túy và nhiều tệ nạn xã hội khác, làm ảnh hưởng đến sức khỏe, tinh thần, kinh tế của cộng đồng, xã hội. Bị cáo tuổi đời còn trẻ, trong độ tuổi lao động nhưng không chịu lao động để giúp ích cho gia đình, cho xã hội mà vì mục đích kiếm lời có tiền tiêu sài nên đã bất chấp thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt hình phạt tù có thời hạn và mức hình phạt phù hợp, đủ mức răn đe giáo dục bị cáo, đồng thời bảo đảm phòng ngừa tội phạm chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như sau:

Tình tiết tăng nặng: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo Tài.

Về xử lý vật chứng trong vụ án:

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì màu trắng bên trong có chứa 01 (một) gói nylon dạng túi zip chứa chất rắn màu trắng, sau giám định có khối lượng là 1,5139 gam, là ma túy, loại Ketamine; 01 (một) gói nylon dạng túi zip bên trong chứa 02 (hai) viên nén màu cam không rõ hình dạng, qua giám định có khối lượng 0.9182 gam, là ma túy, loại MDMA; 01 (một) gói nylon bên trong chứa 03 (ba) gói chứa chất kết rắn màu trắng, qua giám định có khối lượng là 3,3948 gam là ma túy, loại Ketamine. Sau giám định hoàn lại hai phong bì niêm phong số 436 ngày 20-10-2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Toàn bộ số ma túy trên là tang vật của vụ án.

Bị cáo T đã sử dụng 01 (một) điện thoại di động hiệu cảm ứng màu xanh, đã qua sử dụng chưa rõ tình trạng bên trong, số imei: 866314059500452 để liên lạc mua bán ma túy nên tịch thu sung công quỹ nhà nước.

Đối với 01 (một) xe máy màu đen, hiệu Honda, loại xe Vision, BKS:72C2-436.61, Số khung: RLHJK0319MZ070178; Số máy: JK03E-5276405, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Vũng Tàu đã ra quyết định trả lại cho bà N1, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Các vấn đề khác: Đối với Võ Thị Bích N không biết việc Tài lấy xe chở N đi để cùng bán ma túy và Tài tàng trữ ma túy tại phòng trọ số 7, địa chỉ số 653/1 đường T, Phường B, thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu để bán nên không xem xét xử lý đối với Ngọc.

Đối với người gọi cho T tên Mai L hỏi mua ma túy và người đàn ông tên S đưa ma túy cho Tài, là những đối tượng không rõ nhân thân, lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Vũng Tàu tiếp tục điều tra, xác minh để xử lý theo quy định pháp luật, do đó Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.

Đối với tên chủ tài khoản là NGUYEN THANH S số tài khoản 0798399179 tại ngân hàng MB BANK, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Vũng Tàu đã tiến hành xác minh tại ngân hàng Quân đội hiện không có thông tin về số tài khoản này, cơ quan điều tra tiếp tục xác minh khi có căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật, do đó Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.

Về án phí: Bị cáo Tài phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (hai trăm ngàn đồng).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố:

Bị cáo Đỗ Tú T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

1. Áp dụng khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Đỗ Tú T 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13-10-2023.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy 02 phong bì niêm phong số 436 ngày 20-10-2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu cảm ứng màu xanh, đã qua sử dụng chưa rõ tình trạng bên trong, số imei: 866314059500452.

Vật chứng, tài sản nêu trên Chi cục Thị hành án dân sự thành phố Vũng Tàu quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 90/BB.CCTHADS ngày 11-01-2024.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội.

Bị cáo Đỗ Tú T phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ