vanban.org

Bản án 47/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mường La, tỉnh Sơn La Tuyên án 17/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo GTM phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo GTM 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 01/10/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bản án hình sự số 47 ngày 17/02/2024 - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo GTM phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MƯỜNG LA
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

_________
Bản án số: 47/2024/HS-ST
Ngày 17-01-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hoàng Văn Thái.

Bà Hà Thị Chum.

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thu Phương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La tham gia phiên toà: Ông Bế Hoàng Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 45/2023/TLST-HS ngày 28 tháng 12 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:

GTM, sinh ngày 02/3/1992, tại NK, MCC, Yên Bái; Nơi ĐKHKTT: Bản GP, xã NC, huyện Mường La, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hoá: Không; dân tộc: Mông; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông GAR, sinh năm 1979 và con bà LTS, sinh năm 1980; có chồng là SAS, sinh năm 1989, có 04 con, lớn sinh năm 2013 nhỏ sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/10/2023; Bị cáo có mặt tại phiên toà.

QVM, sinh ngày 16/4/2005, tại NC, Mường La, Sơn La; Nơi ĐKHKTT: Bản ĐX, xã NC, huyện Mường La, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 11/12; dân tộc: thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông QVS, sinh năm 1980 và con bà LTH, sinh năm 1984; chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/9/2023; Bị cáo có mặt tại phiên toà.

CVM, sinh ngày 02/10/2001, tại NC, Mường La, Sơn La; Nơi ĐKHKTT: Bản ĐX, xã NC, huyện Mường La, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông CVC, sinh năm 1975 và con bà CTM, sinh năm 1972; chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/9/2023; Bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Người bào chữa cho bị cáo GTM: Ông Nguyễn Phương Vũ. Luật sư – Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm Trợ giúp viên pháp lý nhà nước, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo QVM: Ông Đèo Văn Hải – Luật sư, Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm Trợ giúp viên pháp lý nhà nước, tỉnh Sơn La. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo CVM: Ông Lường Ngọc Chiến – Luật sư, Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm Trợ giúp viên pháp lý nhà nước, tỉnh Sơn La. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: CVN, sinh năm 1994, địa chỉ: Bản Đông Xuông, xã NC, huyện Mường La, tỉnh Sơn La. Có mặt.

- Người phiên dịch: Bà Vàng Thị Dàng, địa chỉ: Tiểu khu 3, thị trấn Ít Ong, huyện Mường La, tỉnh Sơn La. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo GTM, QVM và CVM bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Vào hồi 19 giờ 20 phút ngày 30/9/2023, tại bản Lọng Cang, xã NC, huyện Mường La, tỉnh Sơn La, Công an phát hiện và bắt quả tang QVM, sinh ngày 16/4/2005 và CVM, sinh ngày 02/10/2001, đều địa chỉ: Bản Đông Xuông, xã NC, huyện Mường La, tỉnh Sơn La.

Vật chứng thu giữ do QVM tự giác lấy từ trong lòng tay bên phải giao nộp khai là ma túy mua của GTM, sinh ngày 02/3/1992, ở bản GP, xã NC, huyện Mường La, tỉnh Sơn La: 01 gói ni lon màu trắng bên trong có chứa 06 viên nén màu hồng hình tròn trên mặt đều có chữ WY và các vụn màu hồng, khai là hồng phiến để sử dụng.

01 chiếc xe moto Honda, loại Wave, BKS 26L1-110.24, màu xanh đen bạc, xe cũ qua sử dụng, thu giữ do CVM điều khiển chở QVM.

Bắt giữ khẩn cấp và khám xét khẩn cấp đối với GTM, sinh ngày 02/3/1992, ở bản Giạng Phổng, xã NC, huyện Mường La, tỉnh Sơn La đã có hành vi bán trái phép chất ma túy cho QVM, sinh ngày 16/4/2005, địa chỉ: Bản Đông Xuông, xã NC, huyện Mường La, tỉnh Sơn La.

Vật chứng thu giữ do GTM tự giác lấy từ túi áo khoác bên phải đang mặc giao nộp:

2

01 gói ni lon màu hồng bên trong có chứa 01 viên nén màu hồng hình tròn trên mặt đều có chữ WY, khai là hồng phiến để sử dụng và bán kiếm lời;

04 gói ni lon màu trắng bên trong có chứa cục bột màu trắng, GTM khai là Heroine để sử dụng và bán kiếm lời;

Ngày 30/9/2023 cơ quan Công an đã thành lập hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định, kết quả:

Vật chứng thu giữ do QVM tự giác lấy từ trong lòng tay bên phải đang mặc giao nộp:

01 gói ni lon màu trắng bên trong có chứa 06 viên nén màu hồng hình tròn trên mặt đều có chữ WY có khối lượng 0,59 gam, lấy 0,31 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu MM1A;

Các cục bột màu hồng vỡ vụn có khối lượng 0,57 gam, lấy 0,21 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu MM2A;

Vật chứng thu giữ do khám xét nơi ở của GTM:

01 gói nilon màu trắng bên trong có chứa cục bột màu trắng có khối lượng 0,01 gam lấy 0,01 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu M1;

01 gói nilon màu trắng bên trong có chứa cục bột màu trắng có khối lượng 0,02 gam lấy 0,02 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu M2;

01 gói nilon màu trắng bên trong có chứa cục bột màu trắng có khối lượng 0,04 gam lấy 0,04 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu M3;

01 gói nilon màu trắng bên trong có chứa cục bột màu trắng có khối lượng 0,03 gam lấy 0,03 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu M4;

01 gói ni lon màu hồng bên trong có chứa 01 viên nén màu hồng hình tròn trên mặt đều có chữ WY, có khối lượng 0,10 gam lấy 0,10 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu M5.

Cơ quan Công an huyện Mường La ra quyết định trưng cầu giám định chất ma túy và loại ma túy.

Tại Kết luận giám định số: 2371/KL-KTHS ngày 04/10/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận:

Mẫu ký hiệu MM1A, MM2A là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng giám định là MM1A=0,31 gam, MM2A=0,21gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 1,16 gam Methamphetamine.

Tại Kết luận giám định số: 2376/KL-KTHS ngày 04/10/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận:

Mẫu ký hiệu M1, M2, M3, M4 đều là ma túy, loại Heroine, khối lượng giám định là 0,10 gam. Khối lượng ma túy thu giữ là 0,10 gam Heroine.

3

Mẫu ký hiệu M5 là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng giám định là 0,10 gam, khối lượng ma túy thu giữ là 0,10 gam Methamphetamine.

Tổng số ma túy GTM cất giấu bán và để bán là 1,36 gam. Tổng số ma túy QVM, CVM cất giấu là 1,16 gam.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo GTM, QVM, CVM, những người bào chữa không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên.

Quá trình điều tra GTM, QVM, CVM khai nhận:

Hồi 17 giờ 30 phút ngày 30/9/2023 QVM sang nhà CVM chơi, QVM rủ CVM lấy xe máy đi mua ma túy về cùng sử dụng, do QVM có 500.000, đồng. CVM điều khiển xe moto Honda, loại Wave, BKS 26L1-110.24 chở QVM lên bản Giạng Phổng, xã NC, huyện Mường La vào nhà của GTM, khi vào nhà QVM trực tiếp trao đổi mua bán ma túy với GTM. QVM đưa cho GTM 450.000, đồng được GTM đưa cho trước 01 viên hồng phiến và dặn cho một tý sẽ đi lấy thêm cho. Khi GTM đi ra ngoài, hai người chia đôi viên hồng phiến, mỗi người ra một góc tự sử dụng (đốt hít). Một lúc sau GTM quay lại đưa cho QVM 01 gói ni lon màu trắng bên trong có chứa 06 viên nén màu hồng hình tròn trên mặt đều có chữ WY và các cục màu hồng vỡ vụn. Sau khi có ma túy CVM đèo QVM về, đi đến bản Lọng Cang, xã NC, huyện Mường La, tỉnh Sơn La, Công an phát hiện và bắt quả tang.

Về nguồn gốc số ma túy GTM khai khoảng 16 giờ ngày 30/9/2023 tại khu vực đường bản Giạng Phổng, xã NC, huyện Mường La gặp mua của một người đàn ông dân tộc mông không biết tên, địa chỉ 01 viên hồng phiến với số tiền 30.000, đồng. Sau khi mua được mang về mục để sử dụng và bán kiếm lời. Đến chiều cùng ngày đã bán cho QVM.

Số ma túy còn lại GTM khai sau khi nhận tiền 450.000, đồng từ QVM đi ra đường bản Giạng Phổng, xã NC, huyện Mường La gặp và mua của một người đàn ông dân tộc mông không biết tên, địa chỉ với số tiền 390.000, đồng. GTM giữ lại 60.000, đồng. GTM giữ lại 01 viên hồng phiến và số Heroine, số ma túy này bị thu giữ khi bắt khám xét khẩn cấp. Số hồng phiến còn lại đưa cho QVM.

Không có căn cứ điều tra về hai người bán ma túy, không có chứng cứ nào khác để xác định lời khai của GTM.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo GTM đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Bị cáo QVM, CVM đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Bản cáo trạng số: 11/CT-VKS-ML ngày 28 tháng 12 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La truy tố các bị cáo: GTM về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và bị cáo QVM và CVM phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

4

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo GTM phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt GTM từ 04 đến 05 năm tù;

Tuyên bố các bị cáo QVM và CVM phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt QVM từ 22 đến 28 tháng tù;

Xử phạt CVM từ 20 đến 26 tháng tù;

Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với các bị cáo do không có tài sản.

Về vật chứng: Căn cứ điểm b, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ vật chứng của QVM, CVM: 01 vỏ phong bì niêm phong đã bóc mở; 01 mảnh nilon màu hồng; 0,64 gam Methamphetamine (được niêm phong).

Tịch thu tiêu huỷ vật chứng của GTM: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 04 mảnh nilon màu trắng; 01 mảnh nilon màu hồng ban đầu (được niêm phong).

Chấp nhận cơ quan công an đã trả lại 01 chiếc xe moto Honda, loại Wave, BKS 26L1-110.24, màu xanh đen bạc, xe cũ qua sử dụng cho anh CVN. Được xác định khi Quàng Văn Mẫn mang đi mua ma túy, anh CVN không biết.

Buộc GTM truy thu sung nộp ngân sách Nhà Nước số tiền 450.000, đồng mua bán ma túy mà có đã chi tiêu hết.

Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên Quyết định truy tố. Các bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Những người bào chữa cho các bị cáo phát biểu ý kiến bào chữa đưa ra các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo.

Lời nói sau cùng của các bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

5

[1]. Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mường La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, những người bào chữa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về tố tụng: Người bào chữa cho bị cáo GTM vắng mặt tại phiên tòa. Bị cáo GTM đồng ý xét xử vắng mặt người bào chữa. Căn cứ khoản 1 Điều 291 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt người bào chữa.

. Bị cáo GTM và QVM thừa nhận: Ngày 30/9/2023, tại nhà của GTM ở bản Giạng Phổng, xã NC, huyện Mường La, tỉnh Sơn La đã thực hiện hành vi bán trái phép 01 gói ni lon màu trắng bên trong có chứa 06 viên nén màu hồng hình tròn trên mặt đều có chữ WY và các vụn màu hồng là Methamphetamine có khối lượng là 1,16 gam cho QVM để lấy 450.000, đồng. Đồng thời GTM tàng trữ trái phép 0,10 gam Heroine và 0,10 gam Methamphetamine để sử dụng và bán thì bị bắt quả tang cùng vật chứng.

Bị cáo QVM và CVM thừa nhận: Ngày 30/9/2023 đã cùng cất giữ trái phép chất ma túy là 01 gói ni lon màu trắng bên trong có chứa 06 viên nén màu hồng hình tròn trên mặt đều có chữ WY và các vụn màu hồng là Methamphetamine có khối lượng là 1,16 gam để sử dụng, thì bị bắt quả tang cùng vật chứng.

Xét hành vi bán ma túy của GTM đã được đối chất và làm rõ tại phiên tòa: Khi trao đổi mua bán ma túy, thì chỉ có GTM và QVM trao đổi với nhau, CVM không tham gia trao đổi mua bán. Do đó có căn cứ xác định GTM bán ma túy cho một người.

Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra được chứng minh như sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng thu giữ trong vụ án; Thông báo kết quả giám định.

Như vậy có đủ cơ sở kết luận:

Bị cáo GTM đã thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Do GTM bán, cất giữ hai chất ma túy, cần căn cứ Điều 4 của Nghị định số: 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018, để tính tổng khối lượng của hai chất như sau: Số Methamphetamine có khối lượng 1,26 gam + số Heroine có khối lượng 0,10 gam = 1,36 gam ma túy, nên thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

6

Bị cáo QVM và CVM đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Hội đồng xét xử xét thấy: Tính chất hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng nên cần có mức hình phạt nghiêm khắc nhằm giáo dục các bị cáo.

Về nhân thân: Các bị cáo đều có nhân thân không tốt là đối tượng liên quan đến hoạt động ma túy. Đều không có tiền án, tiền sự. Đều thật thà khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Hai bị cáo QVM và CVM khai ra hành vi phạm tội của GTM, giúp phát hiện tội phạm là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Các bị cáo không có tài sản nên không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với các bị cáo.

. Xét về vai trò đồng phạm: Bị cáo QVM với vai trò chủ mưu, đã chủ động rủ rê bị cáo CVM tham gia mua, cất giữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Cần căn cứ Điều 17, Điều 58 của Bộ luật hình sự để xem xét lên mức hình phạt cho các bị cáo.

. Về vật chứng: Căn cứ điểm b, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ vật chứng của QVM, CVM: 01 vỏ phong bì niêm phong đã bóc mở; 01 mảnh nilon màu hồng; 0,64 gam Methamphetamine (được niêm phong).

Tịch thu tiêu huỷ vật chứng của GTM: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 04 mảnh nilon màu trắng; 01 mảnh nilon màu hồng ban đầu (được niêm phong).

Chấp nhận cơ quan công an đã trả lại 01 chiếc xe moto Honda, loại Wave, BKS 26L1-110.24, màu xanh đen bạc, xe cũ qua sử dụng cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh CVN, sinh năm 1994, địa chỉ: Bản Đông Xuông, xã NC, huyện Mường La, tỉnh Sơn La. Được xác định khi Quàng Văn Mẫn mang đi mua ma túy, anh CVN không biết.

Đối với số tiền mua bán ma túy mà có đã chi tiêu hết là 450.000, đồng, cần buộc GTM truy thu sung nộp ngân sách Nhà Nước.

Về nguồn gốc ma túy GTM khai mua của hai người đàn ông dân tộc mông không biết tên, địa chỉ. Không có căn cứ điều tra về người bán ma túy,

7

không có chứng cứ nào khác để xác định lời khai của GTM, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về số ma túy.

. Xét các vấn đề liên quan khác trong vụ án:

Đối với hành vi của QVM và CVM sử dụng ma túy trong nhà của GTM. Được xác định QVM và CVM tự sử dụng ma túy trong nhà của GTM, trong lúc GTM ra ngoài và GTM không cho và không biết, nên không có dấu hiệu việc chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy của GTM.

Đối với hành vi của QVM và CVM sử dụng ma túy. Được xác định QVM và CVM cùng nhau đi mua để sử dụng. Một người có tiền, một người có phương tiện để đi tìm mua ma túy, khi chia ma túy để sử dụng thì mỗi người tự sử dụng riêng. QVM và CVM đều không có ý thức cung cấp ma túy cho người khác và nhằm đưa ma túy vào cơ thể của nhau. Nên không có dấu hiệu của hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Do bị cáo không có đơn và tài liệu miễn án phí, đồng thời các bị cáo có nguyện vọng được nộp án phí, do đó phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015:

Tuyên bố bị cáo GTM phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo GTM 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 01/10/2023.

Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo.

2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015:

Tuyên bố bị cáo QVM và CVM phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo QVM 24 (hai mươi bốn) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 30/9/2023.

Xử phạt bị cáo CVM 22 (hai mươi hai) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 30/9/2023.

Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với hai bị cáo.

3. Về vật chứng: Căn cứ điểm b, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

8

Tịch thu tiêu huỷ:

01 vỏ phong bì niêm phong đã bóc mở; 01 mảnh nilon màu hồng; 0,64 (không phẩy sáu mươi tư) gam Methamphetamine (được niêm phong theo biên bản mở niêm phong cân tịnh vật chứng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng ngày 30/9/2023);

01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 04 mảnh nilon màu trắng; 01 mảnh nilon màu hồng ban đầu (được niêm phong theo biên bản mở niêm phong cân tịnh vật chứng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng ngày 01/10/2023);

Theo biên bản giao nhận vật chứng chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường La, tỉnh Sơn La.

Buộc GTM truy thu sung nộp ngân sách Nhà Nước số tiền mua bán ma túy mà có đã chi tiêu hết là 450.000, đồng (bốn trăm năm mươi nghìn đồng).

Chấp nhận cơ quan công an đã trả lại 01 chiếc xe moto Wave Honda, BKS 26L1-110.24, màu đen trắng, xe cũ qua sử dụng anh CVN.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo GTM, QVM và CVM phải chịu mỗi người 200.000, đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 17/01/2024.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ