vanban.org

Bản án 47/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh N. Anh Hoàng Văn N được ly hôn chị Trần Thị N1.

Về con chung: Các cháu Hoàng Văn Gia H, Hoàng Trúc N2, Hoàng Trúc A, là con chung của anh Hoàng Văn N và chị Trần Thị N1. Giao cháu Hoàng Văn Gia H, Hoàng Trúc N2 cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng; Giao cháu Hoàng Trúc A cho chị N1 trực tiếp nuôi dưỡng; Không ai phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho a… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "T/C HNGĐ (Hoàng Văn N - Nguyễn Văn N)"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh N. Anh Hoàng Văn N được ly hôn chị Trần Thị N1.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SẦM SƠN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 11/12/2024
V/v: “Ly hôn, tranh chấp
nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÕA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN –TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Phong

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thơm

Bà Trịnh Thị Cúc

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Huy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sầm Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sầm Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 12 năm 2024, Tại Hội trường xét xử, Tòa án nhân dân thành phố Sầm Sơn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án HNGĐ thụ lý số: 123/2024/TLST- HNGĐ ngày 31 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 11 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 46/2024/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2024, giữa:

Nguyên đơn: Anh Hoàng Văn N– Sinh năm 1992;

Bị đơn: Chị Trần Thị N1 – Sinh năm 1994;

HKTT: Tổ dân phố K, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.

Tại phiên tòa vắng mặt nguyên đơn, bị đơn. (Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 26/11/2024, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 21 tháng 10 năm 2024 cũng như qua khai báo, nguyên đơn anh Hoàng Văn N, trình bày: Anh và chị N1 kết hôn với nhau vào năm 2012 là do tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 04/9/2012. Sau khi cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc, vui vẻ đến đầu năm 2023, thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, tính cách không hợp nhau, không tôn trọng nhau, hiện nay chị N1 đang có quan hệ tình cảm với người đàn ông khác, Từ cuối năm 2023, chị N1 bỏ về nhà mẹ đẻ ở, cũng từ đó anh chị đã sống ly thân và không còn quan tâm đến nhau nữa, nay tình cảm không còn, hôn nhân không có hạnh phúc, nên anh đề nghị giải quyết cho anh được ly hôn chị N1.

Về con chung: Vợ chồng có ba con chung là các cháu Hoàng Văn Gia H sinh ngày 18/01/2013, Hoàng Trúc N2, sinh ngày 20/11/2017, Hoàng Trúc A, sinh ngày 15/5/2022. Hiện nay cháu H và cháu N2 đang ở cùng với anh nên anh đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu H và cháu N2, còn cháu Trúc A còn nhỏ đang ở cùng mẹ nên anh đề nghị giao cháu Trúc A cho chị N1 trực tiếp nuôi dưỡng, không ai phải đóng góp tiền nuôi con chung, hiện nay anh đang làm nghề xây dựng, thu nhập mỗi tháng tù 12 đến 15 triệu đồng, có nơi ở ổn định, đảm bảo cho việc nuôi dưỡng chăm sóc các cháu.

Về tài sản, công nợ: Anh không yêu cầu giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng: Anh Hoàng Văn N khởi kiện chị Trần Thị N1 là loại án: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn. Chị N1 có hộ khẩu thường trú tại phường Quảng Tiến, thành phố Sầm Sơn, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sầm Sơn, được tòa án thụ lý theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 điều 35 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Anh N có đơn xin xét xử vắng mặt, chị N1 vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do, vì vậy Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt anh N và chị N1 theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; Khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự.

. Về tình trạng hôn nhân và yêu cầu xin ly hôn: Anh Hoàng Văn N và chị Trần Thị N1 kết hôn với nhau vào năm 2012 là do hai bên tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Q, TP S, tỉnh Thanh Hóa. Tại thời điểm đăng ký kết hôn, cả hai bên anh chị đều đủ tuổi kết hôn, không vi phạm điều 8 luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, như vậy hôn nhân giữa anh, chị được công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi cưới vợ chồng chung sống vui vẻ hạnh phúc đến giữa năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hợp, thường xuyên bất đồng quan điểm, cãi vã, không tôn trọng nhau, hôn nhân không có hạnh phúc. Hiện nay anh chị đã sống ly thân và không còn quan tâm đến nhau nữa.

Ngày 13/11/2024, Tòa án đã tiến hành xác minh nguyên nhân phát sinh tranh chấp của anh chị, cán bộ thôn và chính quyền địa phương cho biết: Quá trình chung sống, anh chị có mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, không hòa thuận, tính cách không hợp nhau, hiện nay anh chị không chung sống cùng nhau nữa. Quan điểm của địa phương là đề nghị Tòa án tiến hành hòa giải để anh chị có cơ hội đoàn tụ, cùng nhau nuôi dậy con cái, nếu không được thì đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Xét thấy tình cảm vợ chồng của anh, chị không đáp ứng được với quy định tại khoản 3 Điều 2 về nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân gia đình và Điều 19 về tình nghĩa vợ chồng của Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Tình cảm giữa hai anh chị thực sự không còn, cuộc sống sống chung không hòa thuận hạnh phúc, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng dẫn tới ly thân và không còn quan tâm đến nhau nữa, mục đích của hôn nhân không đạt được; Quá trình giải quyết vụ án, chị N1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, có thái độ bỏ mặc, không quan tâm đến yêu cầu khởi kiện của anh N, do đó chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh N phù hợp với quy định tại Điều 56 luật HNGĐ 2014.

. Về con chung: Anh N và chị N1 có ba con chung, là các cháu Hoàng Văn Gia H sinh ngày 18/01/2013, Hoàng Trúc N2, sinh ngày 20/11/2017, Hoàng Trúc A, sinh ngày 15/5/2022. Ly hôn anh đề nghị: Hiện nay cháu H và cháu N2 đang ở cùng với anh nên anh đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu H và cháu N2, còn cháu Trúc A còn nhỏ đang ở cùng mẹ nên anh đề nghị giao cháu Trúc A cho chị N1 trực tiếp nuôi dưỡng, không ai phải đóng góp tiền nuôi con chung, hiện nay anh đang làm nghề xây dựng, thu nhập mỗi tháng tù 12 đến 15 triệu đồng, có nơi ở ổn định, đảm bảo cho việc nuôi dưỡng chăm sóc các cháu. Xét thấy đề nghị của anh N là phù hợp, hiện tại anh đang có việc làm và thu nhập, có nơi ở ổn định và đủ sức khỏe để nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con; Cháu Huy và cháu Nhi đều có nguyện vọng xin được ở với bố, vì vậy chấp nhận đề nghị của anh N; Anh, chị được quyền qua lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được ngăn cản.

Về tài sản, công nợ: Anh không yêu cầu tòa án giải quyết nên, miễn xét.

[4]. Về án phí: Anh N thuộc trường hợp phải chịu án phí sơ thẩm ly hôn, theo qui định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a, khoản 5, Điểm Điều 27 nghị quyết số 326 về án phí lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 điều 35; khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; Khoản 1 Điều 228; Điều 238; Khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273 BLTTDS.

- Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí lệ phí toà án.

Về hôn nhân. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh N. Anh Hoàng Văn N được ly hôn chị Trần Thị N1.

Về con chung: Các cháu Hoàng Văn Gia H, Hoàng Trúc N2, Hoàng Trúc A, là con chung của anh Hoàng Văn N và chị Trần Thị N1. Giao cháu Hoàng Văn Gia H, Hoàng Trúc N2 cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng; Giao cháu Hoàng Trúc A cho chị N1 trực tiếp nuôi dưỡng; Không ai phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho ai; Anh, chị được quyền qua lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được ngăn cản.

Về án phí: Anh Hoàng Văn N phải nộp 300 000 đồng, tiền án phí sơ thẩm ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh N đã nộp theo biên lai kí hiệu: BLTU/24 số 0001193, ngày 31/10/2024 của Chi cục Thi hành án DS thành phố Sầm Sơn (anh N đã nộp đủ tiền án phí).

Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết./.

Cỡ chữ