vanban.org

Bản án 47/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30.

Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Trịnh Thị B và anh Trần Minh Th. Về nuôi con chung: Giao cháu Trịnh Thị Phương V (Nữ), sinh ngày 15 tháng 11 năm 2008 cho chị Trịnh Thị B được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc khi chị B, anh Th có yêu cầu khác. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Không công nhận quan hệ vợ chồng"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PH
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:47/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 23 - 4 - 2024
V/v “Không công nhận quan hệ
vợ chồng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PH-TỈNH HẬU GIANG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Liêm.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Dương;

2. Ông Huỳnh Mẫn Xuyên.

-Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Yến Nhi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện PH, tỉnh Hậu Giang.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện PH, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Ông Phan Tấn Xuân Phước - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện PH, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 181/2024/TLST-HNGĐ, ngày 13 tháng 3 năm 2024 về việc “Kkhông công nhận quan hệ vợ chồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2024/QĐXXST-HN, ngày 29 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Trịnh Thị B, sinh năm 1991.

Địa chỉ: ấp N, xã H, huyện PH, tỉnh Hậu Giang.

2. Bị đơn: Trần Minh Th, sinh năm 1987.

Địa chỉ: ấp B, xã H, huyện PH, tỉnh Hậu Giang.

Các đương sự có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn và các lời khai trong quá trình giải quyết, nguyên đơn Trịnh Thị B (Sau đây gọi chị B) trình bày:

Giữa chị và bị đơn Trần Minh Th (Sau đây gọi anh Th) qua tìm hiểu nhau, tự nguyện quyết định đi đến hôn nhân vào năm 2007 nhưng không đăng ký kết hôn. Vợ chồng chung sống thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng sống không hợp nhau, đã nhiều lần hoà giải hàn gắn tình cảm nhưng không thành nên đã sống ly thân từ năm 2009 đến nay. Do cuộc sống chung không hạnh phúc, chị B khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

-Về hôn nhân: Xin ly hôn với anh Th.

-Về con chung: Có một người con chung tên Trịnh Thị Phương V (Nữ), sinh ngày 15 tháng 11 năm 2008. Từ khi thân thì con chung do chị nuôi dưỡng, nay ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con, chưa yêu cầu anh Th cấp dưỡng.

-Về nợ và tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.

Quá trình tố tụng bị đơn Trần Minh Th có lời trình bày: Thừa nhận lời trình bày của nguyên đơn về quan hệ hôn nhân, có một con chung, anh chị chung sống nhưng không có đăng ký kết hôn. Trong thời gian chung. Do cuộc sống chung không hạnh phúc nên anh cũng đồng ý ly hôn. Con chung đồng ý để vợ anh nuôi, anh chưa cấp dưỡng.

-Về nợ và tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.

Tại bản tự khai cháu Trịnh Thị Phương V trình bày (Có sự chứng kiến của chị B, anh Th): Từ trước đến nay cháu sống với mẹ, nay cháu có nguyện vọng được sống với mẹ cháu.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu: Về thủ tục tố tụng: Tòa án, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân thủ đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử không công nhận quan hệ vợ chồng giữa nguyên đơn với bị đơn; giao con chung cho nguyên đơn nuôi dưỡng. Bị đơn chưa phải cấp dưỡng nuôi con. Về nợ và tài sản chung, không yêu cầu nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Tranh chấp giữa các đương sự là Tranh chấp ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện PH, tỉnh Hậu Giang.

Xét về quan hệ hôn nhân: Anh Th và chị B tự nguyện tiến tới đời sống chung như vợ chồng vào năm 2007 nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên hôn nhân của anh, chị là hôn nhân không hợp pháp và không được pháp luật thừa nhận.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị B: Trong thời gian chung sống giữa chị và anh Th có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống nhưng không có biện pháp để hòa giải đoàn tụ mà đã chọn cách sống ly thân, xét thời gian ly thân thì tự ai người đó sống, không ai quan tâm lo lắng cho ai. Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã tạo điều kiện để anh, chị được đoàn tụ và tiến tới đăng ký kết hôn theo quy định nhưng cả anh Th và chị B đều xác định là sống chung không hạnh phúc và đều đồng ý ly hôn. Từ đó thấy rằng hôn nhân giữa anh, chị đã thật sự lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Tuy nhiên, do hôn nhân giữa anh, chị không đăng ký kết hôn nên khi có yêu cầu ly hôn; Căn cứ khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân gia đình: Không công nhận anh, chị là quan hệ vợ chồng.

Về con chung: Có một người con chung, anh chị không tranh chấp về quyền nuôi con. Xét từ khi ly thân đến nay thì cháu V do chị B nuôi dưỡng, chị B cũng có yêu cầu nuôi cháu, yêu cầu này là phù hợp với nguyện vọng của cháu V là được sống với mẹ nên cần tiếp tục giao cháu V cho chị B nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc khi chị B, anh Th có yêu cầu khác.

Về cấp dưỡng: Chị B không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nên không đặt ra xem xét. Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho anh Th mà không ai có quyền cản trở.

Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết, không xem xét.

Về án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp theo quy định pháp luật.

Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.

Các đương sự được quyền kháng cáo theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 Bộ Luật Tố tụng dân sự. Các Điều 14, 53, 55 Luật hôn nhân và gia đình.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30.12.2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Trịnh Thị B và anh Trần Minh Th.

2. Về nuôi con chung: Giao cháu Trịnh Thị Phương V (Nữ), sinh ngày 15 tháng 11 năm 2008 cho chị Trịnh Thị B được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc khi chị B, anh Th có yêu cầu khác.

Trần Minh Th chưa phải cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho anh Trần Minh Th mà không ai có quyền cản trở.

3. Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu, không xem xét.

4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Trịnh Thị B phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ từ 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tà án số 0006556, ngày 13 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện PH, tỉnh Hậu Giang thành án phí, không ai phải nộp thêm.

Trường hợp quyết định này được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các đương sự có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ