vanban.org

Bản án 47/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Mỹ H. Cho chị Nguyễn Thị Mỹ H được ly hôn anh Lê Duy H.

Về con chung: Giao 01 con chung tên Lê Nguyễn Huyền Tr, sinh ngày 12/07/2021 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Lê Duy H không phải cấp dưỡng nuôi con do chị H không có yêu cầu. Sau khi ly hôn, anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Mỹ H. Cho chị Nguyễn Thị Mỹ H được ly hôn anh Lê Duy H.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 31/01/2024
V/v tranh chấp “Xin ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: Bà ÂU THỊ THẢO

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông PHẠM TRUNG THÀNH

2. Ông TRẦN VĂN NHU

-Thư ký phiên tòa: Ông HỨA QUỐC THÁI - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang không tham gia phiên toà.

Ngày 31 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 511/2023/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 10 năm 2023 về việc tranh chấp “Xin ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 135/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị NGUYỄN THỊ MỸ H, sinh năm 1993.

Địa chỉ: ấp Mỹ Tr, xã Thiện Tr, huyện Cái B, tỉnh Tiền G.

2. Bị đơn: Anh LÊ DUY H, sinh năm 1985.

Địa chỉ: ấp Hòa Q, xã Hòa Kh, huyện Cái B, tỉnh Tiền G

(Chị H có đơn xin vắng mặt, anh H vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và tờ tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ H trình bày: Chị và anh Lê Duy H chính thức xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hòa Kh, huyện Cái B, tỉnh Tiền G. Vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 8 năm 2022 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không hợp tính tình nên vợ chồng đã chính thức ly thân với nhau từ đó cho đến nay. Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh H. Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Nguyễn Huyền Tr, sinh ngày 12/07/2021 hiện đang sống với chị H. Nay chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Lê Duy H không có văn bản ý kiến và vắng mặt không lý do.

Tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn xin giải quyết vụ án vắng mặt, bị đơn vắng mặt không lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1] Chị Nguyễn Thị Mỹ H có đơn xin giải quyết vụ án vắng mặt, anh Lê Duy H vắng mặt không rõ lý do mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Căn cứ theo quy định tại Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt chị H, anh H là phù hợp theo quy định của pháp luật.

Về nội dung:

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh H do quen biết có tìm hiểu trước tiến tới xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hòa Kh. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị H xác định vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 8 năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống cụ thể là không hợp tính tình, lối sống, tích cách nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau chính thức ly thân với nhau từ đó cho đến nay. Nay chị cương quyết yêu cầu được ly hôn anh H. Xét thấy, cho chị H được ly hôn anh H là có cơ sở. Bởi lẽ, từ khi ly thân tới nay anh chị cũng không có phương án nào để hàn gắn xây dựng tổ ấm chăm sóc con chung và chị Huyền khẳng định không còn tình cảm với anh H. Đồng thời, trong quá trình thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật cho anh H để đảm bảo quyền nêu ý kiến của anh, cũng như hoà giải để anh chị đoàn tụ nhưng anh H vẫn không có văn bản trình bày ý kiến và vắng mặt không lý do. Chứng tỏ, anh cố tình từ bỏ quyền phản đối, quyền chứng minh của mình và thể hiện anh không còn quan tâm đến cuộc sống hôn nhân giữa anh và chị H nên không có biện pháp nào để hàn gắn, đoàn tụ được. Do đó, cuộc sống hôn nhân của anh chị đã thật sự đổ vỡ, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Cho nên, yêu cầu xin ly hôn của chị H là có căn cứ nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H, cho chị được ly hôn anh Hảo là phù hợp theo Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Nguyễn Huyền Tr, sinh ngày 12/07/2021 hiện đang sống với chị H. Xét thấy, tiếp tục giao cháu Tr cho chị H nuôi dưỡng là có cơ sở. Bởi lẽ, cháu đã sống ổn định với chị H từ khi vợ chồng ly thân đến nay cũng như cháu Tr chưa đủ 36 tháng tuổi nên cần sự quan tâm, chăm sóc từ người mẹ. Từ đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, tránh xáo trộn về mặt tâm sinh lý, đời sống học tập của cháu nên giao cháu Lê Nguyễn Huyền Tr cho chị H được trực tiếp nuôi dưỡng là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét là có căn cứ.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: Căn cứ vào chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, chị Huyền xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết cũng như anh Hảo không có ý kiến gì liên quan đến tài sản chung và nợ chung nên không đặt ra xem xét là có căn cứ.

[6] Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Mỹ H. Cho chị Nguyễn Thị Mỹ H được ly hôn anh Lê Duy H.

Về con chung: Giao 01 con chung tên Lê Nguyễn Huyền Tr, sinh ngày 12/07/2021 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Lê Duy H không phải cấp dưỡng nuôi con do chị H không có yêu cầu.

Sau khi ly hôn, anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Mỹ H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Chị đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 0012909 ngày 05/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Bè nên xem như thi hành xong.

Về quyền kháng cáo: Chị H và anh H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm./.

Cỡ chữ