- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mai Văn T (Tàng trữ ma túy) - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Mai Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 47/2023/HSST Ngày: 25/5/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Bách.
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Mai và bà Vũ Thị Linh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Quốc Cường- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Lệ- Kiểm sát viên.
Tại điểm cầu thành phần Trại Tạm giam Công an tỉnh Hải Dương có ông Nguyễn Hoàng Sơn- Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh; bà Nguyễn Thị Thanh Thiện- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh; ông Vũ Ngọc Đăng, Đồng Minh Hải- Cán bộ Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương.
Ngày 25/5/2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh và Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương. Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương xét xử công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 47/2023/TLST-HS, ngày 14 tháng 4 năm 2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2023/QĐXXST-HS ngày 09/5/2023, đối với bị cáo:
Mai Văn T- sinh năm 2000;
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: KDC N5, phường T, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố đẻ Mai Văn P (đã chết), mẹ đẻ Vũ Thị H.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/01/2023 đến ngày 09/01/2023 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương.
Có mặt tại phiên tòa.
* Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn B- sinh năm 1961. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ, ngày 06/01/2023, Mai Văn T đi xe bus từ nhà đến khu vực cầu N thuộc KDC CN1, phường C, thành phố Chí Linh để mua ma túy về sử dụng. Khi đến nơi T xuống xe đi bộ một đoạn thì gặp và mua 200.000đ tiền ma túy của một người đàn ông không rõ nhân thân lý lịch được 01 gói ma túy đựng trong vỏ bao thuốc lá màu vàng nhãn hiệu Thăng Long. Sau khi mua được ma túy, T cầm gói ma túy ở trong lòng bàn tay phải và đi tìm nơi sử dụng. Khoảng 17 giờ cùng ngày, khi T đi bộ đến khu vực trước cổng nhà ông Nguyễn Văn B- sinh năm 1961 ở KDC CN1, phường C thì bị Công an phường C, thành phố Chí Linh kiểm tra phát hiện, bắt quả tang. Thu giữ trong lòng bàn tay phải của T 01 vỏ bao thuốc lá màu vàng nhãn hiệu Thăng Long bên trong chứa 01 gói nilon màu trắng viền khóa màu đỏ kích thước (1,5x2)cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng. T khai đó là ma túy vừa mua được, mục đích để sử dụng cho bản thân.
Tại bản kết luận giám định số 90/KL-KTHS, ngày 09/01/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương, kết luận: Chất rắn (dạng tinh thể), màu trắng trong túi nilon màu trắng, viền khóa màu đỏ được niêm phong trong phong bì gửi đến giám định khối lượng là 0,187g là ma túy, loại Methamphetamine.
Bản Cáo trạng số 39/CT-VKS-CL, ngày 12/4/2023, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương truy tố Mai Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Mai Văn T thành khẩn khai nhận như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, xử bị cáo mức án thấp nhất.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh thực hành quyền công tố, trình bày luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Mai Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 47; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Luật phí và lệ phí. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Xử phạt bị cáo Mai Văn T từ 13 đến 16 tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 06/01/2023; Về hình phạt bổ sung: không áp dụng; Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy phong bì niêm phong số 90/KL-KTHS, của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương bên trong có 0,159g ma tuý, loại Methamphetamine; 01 túi nilon màu trắng viền khóa màu đỏ; 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định ; 01 vỏ bao thuốc lá màu vàng nhãn hiệu Thăng Long; Buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Chí Linh, Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự có mặt của người tham gia tố tụng: Người làm chứng ông Nguyễn Văn B được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Tuy nhiên, trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai nên căn cứ vào Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt họ.
Về hành vi của bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo phù hợp nội dung biên bản khám xét, lời khai của người làm chứng, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Hồi 17 giờ ngày 06/01/2023, tại trước cổng nhà ông Nguyễn Văn B, ở KDC CN1, phường C, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, Mai Văn T đã có hành vi cất giấu trái phép tại lòng bàn tay phải 0,187g ma túy loại Methamphetamine, mục đích sử dụng cho bản thân thì bị lực lượng Công an phường C, thành phố Chí Linh kiểm tra, phát hiện, bắt giữ.
Hành vi của bị cáo Mai Văn T là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự tại địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ Methamphetamine là vi phạm pháp luật nhưng vì để thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện với khối lượng ma túy 0,187g, loại Methamphetamine. Do vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xem xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy rằng:
5.1. Bị cáo Mai Văn T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
5.2. Bị cáo Mai Văn T trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải có hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo Mai Văn T khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe và giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự bị cáo có thể chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền, tịch thu tài sản. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập, không có tài sản. Do đó không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Sau khi giám định, cơ quan giám định hoàn lại phong bì niêm phong số 90/KL-KTHS của Phòng Kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Hải Dương bên trong có 0,159g ma tuý, loại Methamphetamine; 01 túi nilon màu trắng viền khóa màu đỏ; 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định. Methamphetamine là chất cấm tàng trữ, lưu hành; 01 túi nilon màu trắng viền khóa màu đỏ; 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định; 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định; 01 vỏ bao thuốc lá màu vàng nhãn hiệu Thăng Long không có giá trị sử dụng. Do vậy cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với những người liên quan: Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo T nhưng không rõ đặc điểm, căn cước nên chưa có căn cứ để xử lý.
Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 47; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 293; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Mai Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Mai Văn T 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn tính từ ngày bắt tạm giữ 06/01/2023, tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
2. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy phong bì niêm phong số 90/KL-KTHS, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương bên trong có 0,159g ma tuý, loại Methamphetamine; 01 túi nilon màu trắng viền khóa màu đỏ; 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định; 01 vỏ bao thuốc lá màu vàng nhãn hiệu Thăng Long.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 14/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Chí Linh).
3. Về án phí: Buộc bị cáo Mai Văn T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND thành phố Chí Linh; - VKSND tỉnh Hải Dương; - Trại tạm giam c ng an tỉnh Hải Dương; - Hồ sơ nghiệp vụ C ng an tỉnh Hải Dương; - Cơ quan THAHS C ng an tỉnh Hải Dương; - Cơ quan điều tra C ng an thành phố Chí Linh; - Hồ sơ nghiệp vụ C ng an thành phố Chí Linh; - S Tư pháp tỉnh HD; - Chi cục THADS thành phố Chí Linh; - Lưu hồ sơ; - Lưu trữ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Trọng Bách |