vanban.org

Bản án 47/2023/HSST — Hình sự

TAND Q. Long Biên, TP. Hà Nội Tuyên án 15/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Căn cứ : Khoản 1 điều 321 Bộ luật Hình sự 2015 đối với bị cáo: Dương Tiến T, Nguyễn Thị B và Nguyễn Đức C.

Tuyên bố: Bị cáo Dương Tiến T, Nguyễn Thị B và Nguyễn Đức C phạm tội: “ Đánh bạc” . 2/ Xử phạt: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Tiến T và đồng phạm - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Căn cứ : Khoản 1 điều 321 Bộ luật Hình sự 2015 đối với bị cáo: Dương Tiến T, Nguyễn Thị B và Nguyễn Đức C.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
T PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2023/HSST
Ngày: 15/3/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN

T phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: - Ông Nguyễn Đăng Vĩnh

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Cương

Bà Lê Kim Phương

Thư ký toà án - ghi biên bản phiên toà:

- Bà Nguyễn Thị Hoàng Yến – Thư ký Tòa án nhân dân quận Long Biên

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên tham gia phiên toà:

- Bà Nguyễn Thu Hằng – Kiểm sát viên

Ngày 15 tháng 3 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Long Biên, T phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 33/2023/HSST ngày 17/02/2023 đối với các bị cáo:

1) Họ và tên: Dương Tiến T, Sinh năm: 1991. HKTT và nơi cư trú: xóm 7 thôn C, xã L, huyện V, tỉnh Nam Định. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Văn hóa: 12/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Họ tên bố: Dương T V-SN: 1967. Họ tên mẹ: Hoàng Thị Thu L- SN: 1968. Vợ: Bùi B T- SN: 1990. Bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2019, nhỏ sinh năm 2021. Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất. Theo danh chỉ bản số: 459 lập ngày: 15/6/2022 bị cáo chưa có tiền sự; 01 tiền án đã xóa.

Về nhân thân: Tại bản án số 19/2018/HSST ngày 12/01/2018, Tòa án nhân dân T phố Hà Nội xử phạt 01 năm tù về tội Cưỡng đoạt tài sản, hạn tù tính từ ngày 26/6/2017. Chấp hành xong hình phạt tù về địa phương ngày 26/6/2018. Xác minh thi hành án, Dương Tiến T đã nộp án phí tại biên lai số 7970 ngày 25/6/2018. Bản án này đã được xóa án tích.

Bị cáo bị bắt quả tang và bị tạm giữ từ ngày 05/6/2022, hủy tạm giữ và áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi Cư trú từ ngày 14/6/2022. Hiện tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

2) Họ và tên: Nguyễn Thị B, sinh năm: 1981. HKTT: xã T, huyện K, tỉnh Hà Nam. Chỗ ở: Tổ 26 phường Đ, quận Long Biên, Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Công giáo. Văn hóa: 02/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Họ tên bố: Nguyễn Văn K (Đã chết). Họ tên mẹ: Nguyễn Thị N- SN: 1957. Chồng: Nguyễn Văn H (đã chết). Bị cáo có 02 con sinh năm 2001, nhỏ sinh năm 2006. Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ 2. Theo danh chỉ bản số: 458 lập ngày 15/6/2022, tại công an quận Long Biên bị cáo chưa có tiền án và tiền sự. Bị cáo bị bắt quả tang và bị tạm giữ từ ngày 05/6/2022, hủy tạm giữ và áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14/6/2022. Hiện tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

3) Họ và tên: Nguyễn Đức C, Sinh năm: 1963. HKTT: Tổ 32 phường N, quận Long Biên, Hà Nội. Chỗ ở: Như trên. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Văn hóa: 07/10. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Họ tên bố: Nguyễn Đức N (chết). Họ tên mẹ: Hà Thị C (chết). Họ tên vợ: Trần Thị T- SN: 1972. Bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 1991, nhỏ sinh năm 1999. Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ 2. Theo danh chỉ bản số: 460 lập ngày: 15/6/2022 tại công an quận Long Biên, Hà Nội bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo bị bắt quả tang và bị tạm giữ từ ngày 05/6/2022, hủy tạm giữ và áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14/6/2022. Tại ngoại, có mặt tại phiên tòa

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16h15’ngày 05/6/2022, Tổ công tác Công an phường Đức Giang, quận Long Biên, Hà Nội làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát phát hiện bắt quả tang Nguyễn Thị B, Dương Tiến T, Nguyễn Đức C có hành vi đánh bạc dưới hình thức “chơi phỏm” được thua bằng tiền mặt tại quán nước trên vỉa hè phố Đức Giang thuộc Tổ 22 phường Đức Giang, quận Long Biên, T phố Hà Nội. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, đưa các đối tượng về trụ sở làm rõ.

Tang vật thu giữ:

- 01 bộ bài tây 52 lá, 1.970.000 đồng, 01 túi vải đeo chéo của Nguyễn Thị B;

- 3.270.000 đồng, 01 ví da màu đen, 01 túi xách màu nâu đã qua sử dụng của Dương Tiến T;

- 1.800.000 đồng của Nguyễn Đức C. Tổng số tiền thu giữ là: 7.040.000đ.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Thị B, Dương Tiến T, Nguyễn Đức C khai nhận:

Khoảng 15h30’ ngày 05/6/2022, T đến quán nước của B tại vỉa hè thuộc Tổ 22 phường Đức Giang, quận Long Biên, Hà Nội rủ B đánh “phỏm” bằng bài tây 52 lá, được thua bằng tiền mặt, B đồng ý. Sau đó, T đi mua bài ở cửa hàng tạp hóa ở gần đó mang về quán nước chơi với B. C là khách uống nước xin chơi cùng. Cả ba thống nhất chơi “phỏm” và quy ước như sau:

Ba đối tượng sử dụng bộ bài tú lơ khơ gồm 52 lá bài, quy định hình thức chơi như sau: Mỗi ván bài sẽ dùng 01 bộ bài chia cho 03 người, mỗi người 09 lá bài, riêng người được đánh trước sẽ được chia thêm 01 lá bài, số lá bài còn lại sẽ được để ở giữa gọi là “nọc”. Sau đó, lần lượt bắt đầu từ người có 10 lá bài sẽ đánh trước 01 lá bài. Nếu người ngồi kế tiếp “ăn” được quân bài này để làm “phỏm” (có nghĩa là có 03 lá bài trở lên có cùng số giống nhau hoặc có 03 lá bài trở lên giống chất và có số liên tiếp nhau) thì sẽ đánh 01 lá bài khác cho người ngồi kế tiếp, nếu không “ăn” được sẽ bốc 01 lá bài ở “nọc” lên rồi lại đánh đi 01 lá bài cho người ngồi kế tiếp. Cứ như vậy cho đến khi có người “ù” (nghĩa là trên bài có phỏm và không lẻ lá bài nào) hoặc bốc hết 4 vòng các quân bài trên “nọc” thì sẽ kết thúc ván chơi. Khi đó, ba người sẽ so sánh kết quả từng bài với nhau để phân định: “ù”, “nhất”, “nhì”, “ba”, “móm”. Người nào “ù” thì sẽ được hưởng lợi số tiền của 02 người còn lại, mỗi người phải trả số tiền 50.000 đồng. Nếu không có người nào “ù” thì sẽ tính điểm cao thấp với nhau. Người nào có ít điểm nhất sẽ về “nhất” và được hưởng lợi số tiền của 02 người còn lại lần lượt như sau: người về “nhì” phải trả số tiền là 20.000 đồng, người về “ba” phải trả số tiền là 30.000 đồng. Người bị “móm” (tức là không có “phỏm”) sẽ phải trả số tiền 30.000 đồng, ăn cây T phỏm đầu tiên là 10.000 đồng ( Chỉ tính lá đầu tiên bị ăn); ăn cây “chốt” là 40.000 đồng.

Đến khoảng 16h15’ cùng ngày, khi cả ba đang chơi thì bị tổ công tác Công an phường Đức Giang phát hiện bắt quả tang. Nguyễn Thị B, Dương Tiến T, Nguyễn Đức C khai nhận sau mỗi ván chơi sẽ thanh toán bằng tiền mặt và cất giữ trong người, không bày lên bàn chơi. Số tiền mỗi người giao nộp là số tiền mang theo và trực tiếp sử dụng vào việc đánh bạc.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Long Biên đã xác định khi tham gia đánh bạc, Dương Tiến T sử dụng số tiền 2.900.000đ, thắng 370.000đ. Nguyễn Thị B sử dụng số tiền 1.970.000đ vào việc đánh bạc, quá trình đánh bạc có ván thắng, ván thua.

Nguyễn Đức C sử dụng số tiền 1.760.000đ để đánh bạc, C thắng 40.000đ.

Tổng số tiền ba bị cáo sử dụng, phải chịu trách nhiệm hình sự là 7.040.000 đồng.

Tại cơ quan điều tra, các bị cáo khai nhận việc đánh bạc là tự phát, Dương Tiến T là người khởi xướng và mua bài để làm công cụ phương tiện đánh bạc.

Đối với bị cáo Nguyễn Đức C, bản thân là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Trước đây bị can C sinh hoạt đảng tại Đảng ủy phường Ngọc Thụy, quận Long Biên, Hà Nội. Tháng 01/2019 bị can C đã làm thủ tục chuyển sinh hoạt Đảng về xã Minh Khôi, Nông Cống, Thanh Hóa. Kết quả xác minh, Đảng ủy xã Minh Khôi, Nông Cống, Thanh Hóa cho biết đến nay chưa nhận được hồ sơ sinh hoạt đảng của Đảng viên Nguyễn Đức C. Bị can C khai nhận sau khi nhận hồ sơ đảng viên, Nguyễn Đức C không làm thủ tục chuyển sinh hoạt đảng, hiện nay hồ sơ đảng viên bị can vẫn giữ tại nhà riêng,

Tại bản cáo trạng số: 240/CT-VKS ngày 14/9/2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên truy tố đối với các bị cáo: Nguyễn Thị B, Dương Tiến T, Nguyễn Đức C như đã nêu trên là nguy hiểm cho xã hội, đã phạm tội: Đánh bạc, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng đối với:

+ Bị cáo Nguyễn Thị B: khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự; Áp dụng: điểm s và điểm i khoản 1, khoản 2(có bố đẻ tham gia hoạt động cách mạng theo quyết định số: 62/QĐ-Ttg ngày 09/11/2021 của Thủ tướng Chính phủ) điều 51 Bộ luật Hình sự.

+ Đối với bị cáo Dương Tiến T áp dụng: Khoản 1 Điều 321, điểm s Khoản 1, Khoản 2(là lao động trong gia đình) Điều 51 Bộ luật Hình sự.

+ Bị cáo Nguyễn Đức C áp dụng: Khoản 1 Điều 321, điểm s, điểm i Khoản 1, khoản 2 (bị cáo C có các giấy khen trong quá trình công tác, sức khỏe ốm đau) Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo: Nguyễn Đức C, Nguyễn Thị B và Dương Tiến T. Đề nghị xử phạt như sau:

+ Nguyễn Thị B: 12 tháng đến: 15 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, hạn thử thách: 24 tháng đến: 30 tháng, tính từ ngày tuyên án

+ Nguyễn Đức C: mức án từ: 10 tháng đến: 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách từ: 20 tháng đến: 24 tháng, tính từ ngày tuyên án.

+ Dương Tiến T: mức án từ: 15 tháng đến: 18 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách từ: 30 tháng đến: 36 tháng, tính từ ngày tuyên án.

Giao các bị cáo về UBND nơi cư trú theo dõi, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Hình phạt bổ sung đối với các bị cáo: Không áp dụng.

Vật chứng , án phí, quyền kháng cáo của các bị cáo: Áp dụng: điều 47 Bộ luật hình sự 2015 và điều 106 bộ luật tố tụng hình sự 2015;Nghị quyết 326 của UBTV Quốc hội quy định về án lệ phí tòa án.

+ Trả lại các túi xách, túi đeo chéo ví là tang vật đã thu có biên bản của các bị cáo cho bị cáo nhận lại. Tiêu hủy 01 bộ bài 52 quân.

+ Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền: 7.040.000đ (bảy triệu không trăm bốn mươi nghìn đồng) dùng vào việc đánh bạc.

Các bị cáo phải nộp án phí theo quy định và có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, tính từ ngaỳ tuyên án

Căn cứ các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Long Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo khai nhận nội dung vụ án cũng như vai trò từng bị cáo, những nội dung khai nhận này xét thấy phù hợp với lời khai trước đây cũng như biên bản ghi lời khai.

Vụ án này theo các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện các bị cáo: Dương Tiến T, Nguyễn Thị B và Nguyễn Đức C khia nhận cách thức đánh bạc cũng như số tiền từng bị cáo tham gia sát phạt được thua vào ngày 05/6/2022 cùng tham gia đánh bạc bằng hình thức “đánh phỏm” sử dụng 52 quân bài tú lơ khơ, các bị cáo tự quy ước hình thức thắng, thua, người chia bài, số điểm thắng thua để phân định trả tiền cho nhau. Trong vụ án này các bị cáo đánh bạc nhiều ván, cụ thể từng bị cáo tham gia với số tiền là: Dương Tiến T sử dụng số tiền 2.900.000đ, thắng 370.000đ. Bị cáo Nguyễn Thị B sử dụng số tiền 1.970.000đ vào việc đánh bạc, thua 150.000đ, quá trình đánh bạc có ván thắng, ván thua, bị cáo Nguyễn Đức C sử dụng số tiền 1.760.000đ để đánh bạc, C thắng 40.000đ. Tổng số tiền thu giữ là: 7.040.000đ. Các bị cáo đánh bạc từ 15h30’ đến 16h 15’ thì bị phát hiện.

Do bị cáo B là người thường xuyên bán nước vỉa hè, bị cáo T và C hay ngồi uống nước tại quán của B, ngày 05/6/2022 bị cáo T và B ngồi chơi trước, bị cáo C tham gia sau, bộ bài là do bị cáo T mua khi B nhờ (Bl 131) số tiền mua bài hết 10.000đ do B trả cho T đến, các bị cáo đánh bạc là tự phát không phân công nhiệm vụ hay thu tiền nào khác. Vai trò các bị cáo là ngang nhau, phạm tội có tính chất cơ hội, các bị cáo đều là người lao động, bị cáo T là người đi giao hàng, bị cáo C là cán bộ về hưu đi xe ôm, còn bị cáo B là người bán hàng nước, các bị cáo tham gia đánh bạc sát phạt bằng tiền tổng số là trên 05 triệu đồng, với số tiền của ba bị cáo bị bắt quả tang là: 7.040.000đ(bảy triệu không trăm bốn mươi nghìn đồng), các bị cáo tham gia hơn mười ván đỏ đen.

Như vậy hành vi này của các bị cáo đã phạm tội “Đánh bạc” như nội dung bản cáo trạng truy tố tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ.

Hành vi này là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự hành chính nhà nước, đánh bạc là hành vi bị nhà nước cấm và còn là nguyên nhân các loại tội phạm xã hội khác, gây mất trật tự công cộng, dễ phát sinh các tội phạm khác. Cần có hình phạt giáo dục và phòng ngừa đối với các bị cáo nói riêng và mọi công dân nói chung, tuy nhiên cũng xem xét thái độ các bị cáo khai báo T khẩn, thể hiện sự ăn năn, bị cáo C và bị cáo B chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội thuộc trường hợp ít nguy hiểm, áp dụng cho hai bị cáo này tình tiết giảm nhẹ tại điểm s và điểm I Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Đức C cũng đã có quyết định số: 1524-QĐ/HU ngày 24/11/2022 của Huyện ủy Nông cống, Đảng bộ tỉnh Thanh hóa xóa tên Đảng Viên đối với Nguyễn Đức C.

Bị cáo Dương Tiến T đã có 01 tiền án với mức án 12 tháng và bị xét xử ngày 12/01/2018, ngày 26/6/2018 đã chấp hành xong hình phạt chính cũng như án phí. Ngày 05/6/2022 phạm tội đánh bạc, như vậy bị cáo được đương nhiên xóa án tích, lần phạm tội này cũng được xem là trường hợp: Không có án tích, nhân thân tốt, tuy đã bị kết án nhưng đã đương nhiên xóa án tích. Nhưng mức hình phạt phải cao hơn các bị cáo khác.

Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo như sau: + Bị cáo Dương Tiến T, Nguyễn Thị B, Nguyễn Đức C đều khai báo T khẩn thể hiện sự ăn năn, là lao động chính trong gia đình nên đều được tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s Khoản 1Điều 51 Bộ luật Hình sự, còn các bị cáo B , C phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo T tuy có một tiền án nhưng đã được xóa án tích nên lần này cũng coi như nhân thân tốt nên cũng được hưởng tình tiết giảm nhẹ này quy định tại điểm i Khoản 1, khoản 2(bị cáo hiện đang là lao động chính) Điều 51 Bộ luật Hình sự. Khoản 2(bị cáo B có bố đẻ là thương binh, bị cáo hiện một mình nuôi dạy hai con còn nhỏ, chồng đã chết; bị cáo C có bằng khen huân huy chương trong thời gian tại ngũ) khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Từ tình tiết nêu trên xét các bị cáo có địa chỉ rõ ràng, ngoài lần phạm tội này không vi phạm pháp luật nào khác luôn chấp hành tốt các chính sách của địa phương, tại nơi cư trú nên không cần cách ly khỏi xã hội, tạo cơ hội cải tạo và giáo dục các bị cáo. Cho các bị cáo hưởng Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Về xử lý vật chứng của vụ án: Do các túi vải, túi sách và ví da, bộ bài 52 quân cũng như số tiền: 7.040.000đ(bảy triệu không trăm bốn mươi nghìn đồng là tiền, hiện vật có liên quan hành vi đánh bạc nên túi, ví cho tịch thu tiêu hủy, số tiền đã thu cho tịch thu sung quỹ nhà nước

Các bị cáo phải chịu án phí, các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

1/ Căn cứ : Khoản 1 điều 321 Bộ luật Hình sự 2015 đối với bị cáo: Dương Tiến T, Nguyễn Thị B và Nguyễn Đức C.

Căn cứ: Điểm s, Điểm i(riêng bị cáo T không áp dụng, chỉ áp dụng cho bị cáo B và C) khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều 17 Bộ luật Hình sự áp dụng cho các bị cáo: Dương Tiến T, Nguyễn Thị B và Nguyễn Đức C.

Tuyên bố: Bị cáo Dương Tiến T, Nguyễn Thị B và Nguyễn Đức C phạm tội: “ Đánh bạc” .

2/ Xử phạt:

+ Bị cáo Dương Tiến T: 12(mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách: 24(hai mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án.

+ Bị cáo Nguyễn Thị B: 10 (mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 20 (hai mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án.

+ Bị cáo Nguyễn Đức C: 10 (mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 20 (hai mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo T về UBND xã L, huyện V, tỉnh Nam Định để theo dõi và giám sát trong thời hạn thử thách của bản án. Giao bị cáo C về UBND phường N, quận Long Biên, Hà Nội để theo dõi và giám sát trong thời hạn thử thách của bản án. Giao bị cáo B về UBND phường Đ, quận Long Biên, Hà Nội để theo dõi và giám sát trong thời hạn thử thách của bản án.

Trong trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì các bị cáo phải thực hiện theo quy định của Pháp luật về Thi hành án Hình sự.

Trong thời gian thử thách của bản án treo, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc các bị cáo, bị cáo nào vi phạm phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã được hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

3/ Căn cứ: Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, có hiệu lực từ ngày 01/01/2017 quy định mức án phí, lệ phí Tòa án. Xử lý vật chứng của vụ án:

+Theo biên bản Giao nhận vật chứng ngày 14/10/2022, tại Chi cục Thi hành án Dân sự quận Long Biên, Hà Nội.

Tịch thu tiêu hủy: 52 quân bài, 01 túi vải đeo chéo, 01 ví da màu đen, 01 túi sách màu nâu.

+ Theo Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 17/10/2022 tại KBNN quận Long Biên của Chi cục Thi hành án dân sự quận Long Biên soosTK: 3949.0.1048583.00000 số tiền: 7.040.000đ(bảy triệu không trăm bốn mươi nghìn đồng) cho tịch thu sung quỹ nhà nước.

Mỗi bị cáo Dương Tiến T, Nguyễn Thị B, Nguyễn Đức C phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ