vanban.org

Bản án 47/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Thanh Oai, TP. Hà Nội Tuyên án 29/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “ Cố ý gây thương tích”.

Nguyễn Thị T 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 BLHS, Điều 584, 585, 590 Bộ luật Dân sự năm 2015 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm — đang xem Bản án 47/2023/HSST Tuyên án 29/06/2023
Phúc thẩm Bản án 748/2023/HS-PT Tuyên án 07/09/2023

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “ Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH O
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2023/HSST
Ngày:29/6/2023
NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH O

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

-Thẩm phán-chủ toạ phiên toà: Ông Phan Quốc Quân

- Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Bá Tuấn

2. Bà Nguyễn Thị Minh Huyền.

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Lê Thị Thu Hà.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh O tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Nguyệt - Kiểm sát viên- Phó viện trưởng.

Trong ngày 29/6/2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh O xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 42/2023/HSST ngày 01/6/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2023/QĐXXST – HS ngày 14 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thị T

Tên gọi khác: Không

Giới tính: Nữ

Sinh năm: 1977

HKTT: thôn Trên, xã Bích Hòa, huyện Thanh O, TP Hà Nội;

Quốc tịch: Việt Nam;

Dân tộc: Kinh

Tôn giáo: Công giáo

Nghề nghiệp: Lao động tự do

Trình độ văn hóa: 5/12

Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không

Họ tên bố: Nguyễn Văn Ngân

Đã chết

Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị Kỷ

Đã chết

Gia đình có 06 anh em, bị can là con thứ 5.

Họ và tên chồng: Nguyễn Văn Cao

Sinh năm: 1974

Bị cáo có 01 con sinh năm 2007.

T án, T sự: Không

Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại địa phương.

Người bị hại: Bà Nguyễn Thị Thắm,sinh năm 1972; Trú tại: Thôn Trên,xã Bích Hòa,huyện Thanh O,Hà Nội. Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn Sáng,sinh năm 1967; Trú tại: Thôn Trên,xã Bích Hòa,huyện Thanh O,Hà Nội. Có mặt Ông Nguyễn Văn Cao,sinh năm 1974;Trú tại : Thôn Trên,xã Bích Hòa,huyện Thanh O,Hà Nội. Có mặt. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Bà Vũ Thị Viên, sinh năm 1975; Công ty Luật TNHH Chu Thị Hương Ngân và cộng sự;Trú tại: Số 101,tổ 9,phường Kiến Hưng,quận Hà Đông,Hà Nội. Luật sư thuộc đoàn luật sư thành phố Hà Nội. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Bị cáo Nguyễn Thị T bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh O truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Xuất phát từ việc gia đình Nguyễn Thị T sinh năm 1977 trú tại ngõ Giữa 1, thôn Trên, xã Bích Hòa, huyện Thanh O, thành phố Hà Nội nuôi chó để mất vệ sinh ngõ xóm nên khoảng 08 giờ ngày 08/02/2023, khi T đang cầm chổi cán bằng inox dài 116 cm, đường kính 02 cm, một đầu chổi gắn cước nhựa dài 20cm để quét đường ngõ phía trước cổng nhà thì xảy ra cãi chửi nhau với Nguyễn Thị Thắm sinh năm 1972 là hàng xóm ở cùng thôn. Thắm cầm 01 cán chổi bằng inox dài 90 cm, đường kính 02 cm, hai bên lao vào dùng cán chổi xô xát đánh nhau. Thắm cầm cán chổi giơ lên (không nhớ tay nào) chỉ về phía T, cách mặt của T 20 cm. Thấy vậy, T cũng giơ chổi lên, hướng đầu chổi về phía mặt Thắm. Lúc này, Thắm khua cán chổi của mình về phía chổi của T khiến chổi nhựa của T bị bung, bật rời khỏi cán chổi, rơi xuống đường. Lúc này, T cầm cán chổi vụt nhiều phát trúng đầu, mặt, bắp tay của Thắm khiến Thắm bị rách da chảy máu vùng cằm trái, bắp tay bị bầm tím và ngã ra nền đường. Khoảng 1-2 phút sau Nguyễn Văn Sáng sinh năm 1967 (là chồng của Thắm) đi từ trong nhà ra giật lấy cán chổi từ tay Thắm thì T dừng lại không khua cán chổi nữa mà đi về nhà. Thấy vậy, Sáng cầm cán chổi đi về phía sau lưng T và vụt 01 phát trúng bả vai phải của T. T tiếp tục bước thêm 01 bước về phía cổng nhà mình thì bị Sáng vụt 02 phát trúng bắp tay phải khiến bắp tay bị bầm tím. Lúc này, Thắm nói “Anh Sáng ơi chảy máu rồi” thì Sáng vứt lại cán chổi xuống đường ngõ rồi giật cán chổi của T và ra đỡ Thắm về nhà. Cùng lúc này, Nguyễn Văn Cao sinh năm 1974 (là chồng của T) chạy ra nói Sáng, đồng thời Cao quay vào nhà nhặt được 01 thanh tre dài khoảng 1 m, đường kính 2 cm ở gốc cây sưa trong sân rồi chạy ra cổng thì T can đẩy Cao về. Sau đó, T cầm cán chổi của Thắm và đầu chổi nhựa của mình mang về nhà, còn Sáng cầm cán chổi của T về.

Hậu quả: Nguyễn Thị T bị 01 vết xước dài 3,5 cm ở cổ tay phải và 01 vết bầm tím ở bắp tay phải trong diện (11x5) cm (không đi khám tại cơ sở y tế nào). Nguyễn Thị Thắm bị chấn động não, có 01 vết thương vùng cằm trái (khâu 05 mũi) phải đi khám, điều trị tại Trạm y tế xã Bích Hòa và Bệnh viện Quân y 103 từ ngày 08/2/2023 đến ngày 20/2/2023.

Ngày 04/4/2023, Nguyễn Thị Thắm có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự

Ngày 09/2/2023 Nguyễn Thị T và Nguyễn Văn Sáng đã giao nộp các tang vật trên cho cơ quan công an.

Vật chứng thu giữ:

- 01 cán chổi inox dài 90 cm, đường kính cán chổi là 02 cm, một đầu chổi có kích thước 20x32 cm bằng nhựa màu cam, (Do Nguyễn Thị T giao nộp).

- 01 cán chổi inox dài 116 cm, đường kính 02 cm (Do Nguyễn Văn Sáng giao nộp).

Tại bản Kết luận giám định số 1876/KL-KTHS ngày 22/3/2023 của Viện khoa học hình sự – Bộ Công an kết luận:

Đối chiếu Bảng 1 – Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích ban hành kèm theo Thông Tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể cho từng thương tích như sau:

+ Sẹo vùng cằm trái kích thước nhỏ : 03 % (Áp dụng nguyên tắc 1,2 và Mục 1.1 Chương 8).

+ Tổn thương một nhánh dây V bên trái: 07 % (Áp dụng Mục VII.4.9, Chương 1).

Áp dụng phương pháp xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể quy định tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế, xác định tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Thị Thắm tại thời điểm giám định là: 10% (mười phần trăm) Cơ chế hình thành thương tích:+ Tổn thương vùng cằm trái của bà Nguyễn Thị Thắm do vật có diện tiếp xúc hẹp gây nên.

+ 02 cán chổi inox gửi giám định gây được tổn thương vùng cằm trái của bà Nguyễn Thị Thắm.

Tại bản cáo trạng số 44/CT - VKS ngày 30/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh O đã quyết định truy tố: Bị cáo Nguyễn Thị T về tội "Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 điều 134 của bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội: Tại phiên tòa Nguyễn Thị T không thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân; VKS giữ nguyên quyết định đã truy tố, và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng :

Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134, điểm i khoản 1 điều 51, điều 38 BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), đề nghị HĐXX tuyên phạt Nguyễn Thị T mức án từ 06 – 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Áp dụng Điều 48 BLHS, Điều 584, 585, 590 Bộ luật Dân sự năm 2015: Buộc bị cáo Nguyễn Thị T phải bồi thường cho Nguyễn Thị Thắm các khoản chi phí liên quan đến điều trị thương tích, số T từ 35.000.000đồng đến 40.000.000 đồng

- Vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS đề nghị HĐXX : Tịch thu tiêu hủy 01 cán chổi inox dài 90 cm, đường kính cán chổi là 02 cm, một đầu chổi có kích thước 20x32 cm bằng nhựa màu cam; 01 cán chổi inox dài 116 cm, đường kính 02 cm

- Về án phí hình sự: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự trong hình sự theo quy định.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Luật sư trình bày: Đề nghị HĐXX xem xét,xử lý nghiêm minh hành vi của bị cáo và cần áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự với tình tiết có tính chất côn đồ đối với bị cáo,đồng thời xem xét tăng mức bồi thường đối với bị cáo.....

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện, chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1]. Về tố tụng: [1.1]. Về quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, cơ quan truy tố, về hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Đã tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thu thập đầy đủ, đúng trình tự theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên: Không mớm cung, ép cung, bức cung, dùng nhục hình đối với bị caó. [1.2]. Những người làm chứng đều có mặt và đều đã có lời khai trong quá trình điều tra . [2]. Về nội dung: Xét lời khai của bị cáo Nguyễn Thị T: Quá trình điều tra, truy tố bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân. Tuy nhiên tại phiên toà hôm nay bị cáo đã không thành khẩn khai báo, không ăn năn hối cải, khai nhận hành vi phạm tội quanh co, không thừa nhận hành vi của mình như diễn biến nội dung vụ án. Tuy nhiên quá trình điều tra công khai tại phiên tòa phù hợp các tài liệu có trong hồ; Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để khẳng định:

Ngày 08/2/2023, tại ngõ Giữa 1, thôn Trên, xã Bích Hòa, huyện Thanh O, thành phố Hà Nội, Nguyễn Thị T đã có hành vi dùng cán chổi inox dài 116 cm, đường kính 2 cm là hung khí nguy hiểm vụt nhiều phát trúng vùng đầu, mặt của Nguyễn Thị Thắm khiến Thắm bị tổn hại 10% sức khỏe.

Đối chiếu với các quy định của pháp luật hình sự, thì hành vi của Nguyễn Thị T đã phạm vào tội "Cố ý gây thương tích", theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự. Cáo trạng đã truy tố bị cáo là hoàn toàn chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất vụ án: Đây là vụ án có tính chất nguy hiểm cho xã hội, bởi lẽ hành vi của bị cáo đã xâm hại đến quyền được bảo vệ sức khoẻ của công dân, gây ảnh hưởng xấu và làm mất trật tự trị an tại địa phương.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm sức khoẻ của người khác, thể hiện sự coi thường pháp luật. Chưa hỗ trợ cho bị cáo khoản T nào trong quá trình điều trị thương tích. Do đó, cần phải có mức hình phạt nhất định, mới đủ sức răn đe giáo dục bị cáo thành công dân tốt, và mang tính phòng người chung cho xã hội. Mặt khác bản thân người bị hại cũng có một phần lỗi khi xảy ra mâu thuẫn giữa hai bên bị hại cũng có hành vi dùng chổi khua vào bị cáo và xảy ra xô xát, sau đó lời qua tiếng lại và bị hại cũng đã có hành vi dùng chổi đánh nhau với bị cáo. Ngoài ra do bị cáo và bị hại cùng ở nơi cư trú, là hàng xóm láng giềng, tối lửa tắt đền có nhau vì vậy khi xem xét lượng hình cũng cần lưu tâm để giữ gìn tình làng, nghĩa xóm. Tuy nhiên, để áp dụng đúng mức hình phạt đối với bị cáo, cũng cần xem xét, mặc dù bị cáo chưa tỏ ra ăn năn, hối lỗi, thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội nhưng xét nhận thức của bị cáo còn hạn chế, lần đầu phạm tội chưa có T án T sự.

Do vậy, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng theo điểm i Khoản 1 Điều 51 BLHS, xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.

Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đã được viện dẫn, xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ sức để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thị Thắm đề nghị bồi thường số T 213.003.260 đồng (hai trăm mười ba triệu không trăm linh ba nghìn hai trăm sáu mươi đồng). Đến nay, Nguyễn Thị T vẫn chưa bồi thường cho Thắm khoản T nào. Tuy nhiên xét chỉ chấp nhận một phần về việc yêu cầu bồi thường sức khỏe như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.

Buộc bị cáo Nguyễn Thị T phải bồi thường cho Nguyễn Thị Thắm các khoản chi phí liên quan đến điều trị thương tích gồm:

- T chi phí khám chữa bệnh và hóa đơn thuốc: 11.241.026 đồng

+ Chi phí khâu tại trạm y tế xã Bích Hòa:

250.000 đồng + Biên lai thanh toán Viện phí số 628434 tại BVQY 103 ngày

6.174.826 đồng 23/2/2023: + Phiếu đăng ký khám bệnh tại BVQY 103 ngày 13/03/2023:

38.700 đồng + Phiếu thu chuẩn đoán hình ảnh số 23045878 ngày 13/3/2023:

1.446.000 đồng + Đơn thuốc BVQY 103 ngày 13/3/2023

3.081.500 đồng + Bảng kê chi phí Bệnh viện Đại học Y Hà Nội số 000268

250.000 đồng ngày 20/3/2023: + Phiếu đăng ký khám bệnh tại Bệnh viện Quân y 103 ngày

38.700 đồng 25/4/2023:

- T chi phí taxi đi lại: 2.420.000 đồng (không tính T xe đi đến công an)

- T công người chăm sóc khi chị Thắm điều trị tại bệnh viện. Ngày 12/5/2023 Công ty cổ phần Long Mã xác nhận anh Sáng là bảo vệ của công ty, từ tháng 2 đến hết ngày 30/4/2023 anh Sáng vẫn đi làm đủ 26 ngày công và 4 ngày nghỉ, nhận đủ T lương 3 tháng. Do vậy không có căn cứ để tính T công của anh Sáng trong thời gian chăm sóc chị Thắm nằm viện.

- T bồi dưỡng sức khỏe trong thời gian nằm viện: 300.000đồng x 13 ngày = 3.900.000đồng

- T thu nhập thực tế bị mất không đi làm được trong thời gian 1 tháng: 200.000đồng x 30 ngày = 6.000.000 đồng

- T bồi dưỡng phục hồi sức khỏe: từ 10.000.000đồng- 15.000.000 đồng. Tổng số T bồi thường là: 40.000.000đồng [3.3] Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 02 cán chổi và 01 đầu chổi cước nhựa Cơ quan điều tra đã thu giữ. [3.4] Về các nội dung khác: Đối với thương tích của Nguyễn Thị T, cơ quan điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định và dẫn giải Nguyễn Thị Tiền đi giám định (3 lần) theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, Nguyễn Thị Tiền kiên quyết từ chối giám định thương tích và có đơn đề nghị không xử lý với người đã gây thương tích cho mình, không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự liên quan nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý là có căn cứ

* Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “ Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134, điểm i khoản 1 điều 51, điều 38 BLHS 2015. Xử phạt:

Nguyễn Thị T 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 BLHS, Điều 584, 585, 590 Bộ luật Dân sự năm 2015

Buộc bị cáo Nguyễn Thị T phải bồi thường cho Nguyễn Thị Thắm các khoản chi phí liên quan đến điều trị thương tích, số T 40.000.000đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản T lãi của số T còn phải thi hành án theo mức lãi suất bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại Khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án có hiệu lực pháp luật được thi hành án theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

- Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 cán chổi inox dài 90 cm, đường kính cán chổi là 02 cm, một đầu chổi có kích thước 20x32 cm bằng nhựa màu cam; 01 cán chổi inox dài 116 cm, đường kính 02 cm; Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08 tháng 6 năm 2023 giữa Công an huyện Thanh O và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh O, Thành phố Hà Nội.

- Về án phí: Áp dụng điều 136 BLTTHS 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí, buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí HSST và 2.000.000 (Hai triệu) đồng Án phí dân sự.

Án xử sơ thẩm, bị cáo, người bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ