- Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ JÚT TỈNH ĐĂK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 47/2023/HSST Ngày 07-9-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ JÚT
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lộc Thị Vinh
Các Hội thẩm nhân dân:
1.Bà Phạm Thị Thơm
2.Bà Nguyễn Thị Thuận
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Uyên - Thư ký TAND huyện Cư Jút.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút tham gia phiên toà: Ông Đặng Văn Quý - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 9 năm 2023, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Cư Jút xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 45/2023/TLST-HS ngày 04/8/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2023/QĐXXST-HS ngày 24/8/2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Tiến Đ, sinh năm 2000, nơi sinh: Đăk Nông; nơi cư trú: Thôn Đ, xã S, huyện K, tỉnh Đăk Nông; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tích: Việt Nam; con ông Nguyễn Minh T;sinh năm 1975 và con bà: Nguyễn Thị H, sinh năm 1975; cư trú: Thôn Đ, xã S, huyện K tỉnh Đăk Nông; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 04/6/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Cư Jut, tỉnh Đăk Nông - Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Minh T, sinh năm: 1975. Địa chỉ: Thôn Đ, xã S, huyện K, tỉnh Đăk Nông – Vắng mặt.
- Người chứng kiến:
1. Chị Lương Thị L, sinh năm 1979. Địa chỉ: Tổ dân phố A, thị trấn E, huyện C, tỉnh Đắk Nông – Vắng mặt.
2. Chị Trần Thị H, sinh năm 1983. Địa chỉ: Tổ dân phố A, thị trấn E, huyện C, tỉnh Đắk Nông – Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 00 phút, ngày 06/4/2023, bị cáo Nguyễn Tiến Đ điều khiển xe mô tô biển số 48D1 -182.06 đi một mình từ nhà thuộc thôn Đ, xã S, huyện K, tỉnh Đắk Nông đến đường P, thành phố Buôn Ma thuột, tỉnh Đắk Lăk gặp một người phụ nữ tên L (Không xác định được nhân thân và lai lịch) và hỏi mua ma túy thì người này đồng ý và bán ma túy cho Nguyễn Tiến Đ với số tiền là 300.000 (Ba trăm ngàn đồng) phụ nữ tên L đồng ý và lấy trong người đưa cho Đ 01 (Một) đoạn ống nhựa màu vàng, bên trong chứa ma túy (Methamphetamine). Mua được ma túy Đ cầm trên tay trái rồi điều khiển xe mô tô đi từ đường P, thành phố Buôn Ma thuột, tỉnh Đắk Lăk về nhà thuộc thôn Đ, xã S, huyện K, tỉnh Đắk Nông. Đến 11 giờ 30 phút, cùng ngày, khi Đ đi đến trước số nhà O, đường H, TDP A, thị trấn E, huyện C thì bị lực lượng Công an kiểm tra bắt quả tang. Thu giữ 01 (Một) đoạn ống nhựa màu vàng bên trong có chứa tinh thể màu trắng (Methamphetamine) được hàn kín hai đầu trong lòng bàn tay trái của Đ. Cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra tiến hành xét nghiệm chất ma túy đối với Nguyễn Tiến Đ, kết quả Đ dương tính với chất ma túy.
Cơ quan điều tra đã thu giữ những vật chứng sau:
- 01 (Một) đoạn ống hút nhựa màu vàng hàn kín hai đầu (nghi là ma túy đá) thu giữ trong bàn tay trái của Nguyễn Tiến Đ, được niêm phong trong một phong bì thư có chữ ký giáp lai của người bị bắt quả tang Nguyễn Tiến Đ, người chứng kiến Trần Thị H, Lương Thị L và đóng dấu giáp lai của Công an thị trấn E, huyện C, Đắk Nông
- 01 (Một) Xe mô tô nhãn hiệu Wave RSX màu Vàng Đen, biển kiểm soát 48D1 -18.206, tạm giữ của Nguyễn Tiến Đ. Xác định xe mô tô biển kiểm soát 48D1 - 18.206 Nguyễn Tiến Đ sử dụng là của ông Nguyễn Minh T, khi Đ sử dụng xe thực hiện tội thì ông T không biết, vì vậy Cơ quan CSĐT Công an huyện Cư Jut ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả tài sản trên cho chủ sỡ hữu.
Bản kết luận giám định số 213/KL-KTHS ngày 08/6/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông, kết luận: Chất rắn dạng tinh thể màu vàng đựng trong 01 (Một) đoạn ống hút nhựa màu vàng hàn kín hai đầu được niêm phong bì thư gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; có khối lượng mẫu là 0,2488 gam. Hoàn lại đối tượng giám định. Chất rắn dạng tinh thể màu trắng trong bì thư hoàn lại có khối lượng là 0,2661 gam.
Cáo trạng số: 47/CTr-VKS ngày 03/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút đã truy tố bị cáo Nguyễn Tiến Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) (Sau đây viết tắt là BLHS).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung cáo trạng; đề nghị Hội đồng xét xử ( Sau đây viết tắt là HĐXX) tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến Đ từ 15 (Mười lăm) đến 18 (Mười tám) tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 46, 47 BLHS, Điều 106 Bộ luật của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên:
- Tịch thu tiêu hủy: 0,2904 gam gam ma túy (Methamphetamine) hoàn lại cơ quan trưng cầu sau giám định (Đựng trong một gói Zipper chỉ đỏ có kích thước (4x6)cm. Gói Zipper trên và gói giấy bạc đựng mẫu gửi giám định được cho vào một bì thư có kích thước (16x23)cm, mặt trước bì thư có ký hiệu 102/KL – KTHS và ghi mẫu hoàn trả; mặt sau bì thư được dán kín, có chữ ký giáp lai của giám định viên, trợ lý giám đinh, đại diện Công an huyện Cư Jút và đóng dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đăk Nông).
- 01 (Một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy (Gồm 01 chai nhựa trong suốt, có nắm màu vàng, bên trên năm chai gắn 01 cóng thủy tinh và 01 ống hút bằng nhựa và 01 quẹt ga màu trắng đã qua sử dụng)
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Tiến Đ thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố, thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.
Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về chứng cứ xác định bị cáo có tội: Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, kết luận giám định, lời khai của những người chứng kiến và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, do đó hoàn toàn có đủ căn cứ để kết luận: Vào lúc 11 giờ 30 phút, ngày 04/6/2023 trước số nhà O, đường H, TDP A, thị trấn E, huyện C, Công an huyện Cư Jút bắt quả tang bị cáo Nguyễn Tiến Đ đang có hành vi Tàng trữ trái phép 0,2488 gam ma túy, loại (Methamphetamine) mục đích để sử dụng.
Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được ma túy là chất gây nghiện bị Nhà nước cấm lưu hành, có tác hại lớn đến sức khỏe con người và là nguyên nhân gây phát sinh các loại tội phạm khác trong xã hội. Việc cất giữ trái phép ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật hình sự nhưng do ý thức coi thường pháp luật nên vẫn cố ý thực hiện.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Tiến Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự (BLHS).
Điều 249 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
…
c) Heroine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
................”
Việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Tiến Đ là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền về quản lý chất ma túy của Nhà nước. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, HĐXX xét thấy cần phải có mức hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo.
Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về các tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Tiến Đ đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Do đó bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của của bị cáo, HĐXX thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định như vậy mới bảo đảm tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
Đối với người phụ nữ tên Loan bán ma túy cho Nguyễn Tiến Đ, quá trình điều tra Cơ quan CSĐT Công an huyện Cư Jút không xác định được nhân thân, lai lịch. Cơ quan CSĐT Công an huyện Cư Jút tiếp tục điều tra xác minh làm rõ, khi nào có đủ căn cứ sẽ xử lý sau.
Hình phạt bổ sung: Qua xác minh tại UBND xã S ngày 11/7/2023 thể hiện bị cáo không có tài sản để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ về tài sản nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án:
- Tịch thu tiêu hủy: 0,2661 gam ma túy (Methamphetamine) hoàn lại cơ quan trưng cầu sau giám định (đựng trong một gói Zipper chỉ đỏ có kích thước (4x6)cm. Gói Zipper trên và gói giấy bạc đựng mẫu gửi giám định được cho vào một bì thư có kích thước (16x23)cm, mặt trước bì thư có ký hiệu 213/KL – KTHS và ghi mẫu hoàn trả; mặt sau bì thư được dán kín, có chữ ký giáp lai của giám định viên, trợ lý giám đinh, đại diện Công an huyện Cư Jút và đóng dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đăk Nông).
- Chấp nhận quyết định xử lý vật chứng số 96/QĐ-KTMT ngày 25/7/2023 của Cơ quan CSĐT Công an huyện CưJut trả lại ông Nguyễn Minh T 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu: Wave RSX màu Vàng Đen, biển kiểm soát 48D1 -18.206 là chủ sở hữu hợp pháp.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều106, Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:
1.Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến Đ 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (Ngày 04/6/2023).
2.Về vật chứng của vụ án:
- Chấp nhận quyết định xử lý vật chứng số 96/QĐ-KTMT ngày 25/7/2023 của Cơ quan CSĐT Công an huyện CưJut trả lại ông Nguyễn Minh T 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu: Wave RSX màu Vàng Đen, biển kiểm soát 48D1 -18.206 là chủ sở hữu hợp pháp.
- Tịch thu tiêu hủy: 0,2661 gam ma túy (Methamphetamine) hoàn lại cơ quan trưng cầu sau giám định (đựng trong một gói Zipper chỉ đỏ có kích thước (4x6)cm. Gói Zipper trên và gói giấy bạc đựng mẫu gửi giám định được cho vào một bì thư có kích thước (16x23)cm, mặt trước bì thư có ký hiệu 213/KL – KTHS và ghi mẫu hoàn trả; mặt sau bì thư được dán kín, có chữ ký giáp lai của giám định viên, trợ lý giám đinh, đại diện Công an huyện Cư Jút và đóng dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đăk Nông).
(Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/8/2023 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện Cư Jút và Chi cục Thi hành án dân sự huyện C).
3. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Tiến Đ phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo đối với phần liên quan trong bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt bản án hợp lệ.
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Nông; - VKSND tỉnh Đắk Nông. - Phòng PV06; PC10 CA tỉnh Đắk Nông; - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông; - VKSND huyện Cư Jút; - CA huyện Cư Jút; - Chi cục THADS huyện C; - Bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ; VP; BP-THAHS. | THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lộc Thị Vinh |