vanban.org

Bản án 47/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh Tuyên án 04/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Chung Hoài Ph và bị cáo Nguyễn Trường A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Chung Hoài Ph 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính kể từ ngày 03/02/2023. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trường A 01 (một) năm tù. Thời hạn phạt tù tính kể từ ngày 03/02/2023.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Chung Hoài Ph và bị cáo Nguyễn Trường A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH TRÀ VINH
Bản án số: 47/2023/HSST
Ngày: 04/8/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phú Hiệp

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Trần Văn Hiểu.

2/ Ông Võ Văn Phương

- Thư ký phiên tòa: Bà Châu Thị Phượng Liên, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Như - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 59/2023/HSST ngày 18 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2023/QĐXXST-HS ngày 21/7/2023 đối với các bị cáo:

1/ Chung Hoài Ph (tên gọi khác: Không có), sinh ngày 12/4/1996; tại tỉnh Trà Vinh, Nơi cư trú: ấp Gạch Rốc, xã LH, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Cao Đài; quốc tịch: Việt Nam; con bà Chung Thị S, sinh năm 1961 (chết), không rõ cha là ai; chưa có vợ con; Tiền sự, tiền án: không có; nhân thân: tốt; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/02/2023 đến ngày 12/02/2023 chuyển sang tạm giam cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2/ Nguyễn Trường A (tên gọi khác: Không có), sinh ngày 20/08/2001; tại tỉnh Trà Vinh, Nơi cư trú: ấp Gạch Rốc, xã LH, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1975 (chết) và bà Trần Thị Tố Ng, sinh năm 1975; chưa có vợ con; Tiền sự, tiền án: không có; nhân thân: tốt; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/02/2023 đến ngày 12/02/2023 chuyển sang tạm giam cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ ngày 03/02/2023, bị cáo Chung Hoài Ph rủ bị cáo Nguyễn Trường A hùn tiền mua ma túy về sử dụng thì bị cáo A đồng ý, nhưng do chưa có tiền nên bị cáo A nói với bị cáo Ph là sẽ đưa tiền cho bị cáo Ph sau. Sau đó bị cáo Ph gọi điện thoại cho một thanh niên tên L (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) ở huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre hỏi mua một phần ma túy đá với số tiền 1.000.000 đồng, ngoài ra bị cáo Ph còn hỏi xin thêm một bộ dụng cụ sử dụng ma túy thì L đồng ý và thống nhất địa điểm giao ma túy là bến phà Bến Giông thuộc ấp Thạnh An, xã Bình Thạnh, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

Sau đó, bị cáo Ph điều khiển xe mô tô biển số 84D1-179.51 chở bị cáo A đến bến phà Rạch Gốc thuộc ấp Rạch Gốc, xã LH, huyện Châu Thành, bị cáo Ph gửi xe tại đây và cùng bị cáo A xuống phà sang phía bến phà Bến Giông. Lúc trên phà, bị cáo Ph đưa cho bị cáo A 1.000.000 đồng để trả tiền mua ma túy. Khi đến bến phà Bến Giông thì bị cáo Ph đứng đợi ở dưới phà còn bị cáo A đi lên khu vực nhà chờ khách để gặp L và nhận 01 gói thuốc lá hiệu 555 màu xanh từ L, bị cáo A đưa 1.000.000 đồng trả tiền ma túy cho L và đi xuống phà rồi cùng bị cáo Ph quay lại bến phà Rạch Gốc lấy xe. Bị cáo Ph điều khiển xe chở bị cáo A đi được khoảng 100m thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự, kinh tế và ma túy Công an huyện Châu Thành phối hợp với Công an xã LH và Đồn biên phòng LH kiểm tra nên bị cáo A đã ném gói thuốc lá hiệu 555 vừa nhận từ L xuống đất. Qua kiểm tra phát hiện bên trong gói thuốc lá mà bị cáo A vừa ném có hai bịch nylon màu trắng, loại khóa vuốt mép, có đường viền màu xanh, chứa chất tinh thể rắn màu trắng nghi là ma túy và hai đoạn thủy tinh không rõ hình dạng nên lực lượng Công an đã lập biên bản tạm giữ và niêm Ph số đồ vật nêu trên

Tại Kết luận giám định số 67/KL-KTHS ngày 08/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Trà Vinh kết luận:

- Gói 1: Tinh thể rắn màu trắng chứa trong 01 (một) bịch nylon được niêm Ph ký hiệu PS3, mã số PS3 2128937 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng 1,0420 gam.

- Gói 2: Tinh thể rắn màu trắng chứa trong 01 (một) bịch nylon được niêm Ph ký hiệu PS3, mã số PS3 2128936 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng 1,0289 gam..

Vật chứng của vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành tạm giữ: tinh thể rắn màu trắng (sau giám định) có khối lượng 1,0239 gam và 1,0131 gam được để trong Ph bì niêm Ph số 67/M1 và 67/M2; 01 vỏ gói thuốc lá hiệu 555 màu xanh; 02 đoạn thủy tinh không rõ hình dạng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu trắng của bị cáo Nguyễn Trường A; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đỏ, loại màn hình cảm ứng, tiền Việt Nam 6.113.000 đồng của bị cáo Chung Hoài Ph và 01 xe mô tô biển số 84D1-179.51. Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã trao trả 01 xe mô tô biển số 84D1-179.51 cho chủ sở hữu bà Huỳnh Thị Thuận.

Tại bản cáo trạng số 51/CT-VKS.HS ngày 17/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh đã truy tố bị cáo Chung Hoài Ph và bị cáo Nguyễn Trường A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Chung Hoài Ph và Nguyễn Trường A thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Do có nhu cầu sử dụng ma túy, nên vào khoảng 14 giờ ngày 03/02/2023, hai bị cáo Ph và An cùng nhau đi mua ma túy của đối tượng tên L (không rõ họ tên, địa chỉ). Việc giao nhận ma túy và trả tiền mua ma túy 1.000.000đ được thực hiện tại bến phà Bến Giông thuộc ấp Thạnh An, xã Bình Thạnh, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. Trên đường về đến ấp Rạch Gốc, xã LH, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh thì bị Công an huyện Châu Thành kiểm tra phát hiện như cáo trạng đã nêu là đúng. Việc Viện kiểm sát truy tố hai bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng, không oan cho hai bị cáo, hai bị cáo Ph và An không có khiếu nại gì mà chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.

Quan điểm của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh: Sau khi phân tích, đánh giá toàn bộ chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa hôm nay, vị kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Chung Hoài Ph và Nguyễn Trường A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xét thấy hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của hai bị cáo là nguy hiểm cho xã hội và sau khi xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với hai bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Chung Hoài Ph và bị cáo Nguyễn Trường A mỗi bị cáo từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù đến 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngoài ra vị kiểm sát viên còn đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng, án phí và dành quyền kháng cáo cho các bị cáo theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử đã thẩm tra các Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, thấy rằng các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều đúng quy định pháp luật, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại hoặc có ý kiến nào khác phản đối các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nên các quyết định và hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền của người tiến hành tố tụng điều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa hôm nay, hai bị cáo Chung Hoài Ph và Nguyễn Trường A khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng thu được tại hiện trường, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án thể hiện:

Do cần ma túy để sử dụng nên Chung Hoài Ph rủ Nguyễn Trường A hùn tiền mua ma túy. Sau khi mua được ma túy, đến khoảng 14 giờ ngày 03/02/2023, Ph và An trên đường về đến ấp Rạch Gốc, xã LH, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự, kinh tế, ma túy Công an huyện Châu Thành phối hợp với Công an xã LH và Đồn biên phòng LH kiểm tra phát hiện Ph và An đang tàng trữ trái phép chất ma túy với tổng khối lượng 2,0709 gam, loại Methamphetamine.

Do đó đủ cơ sở kết luận hành vi của hai bị cáo Chung Hoài Ph và Nguyễn Trường A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Chất ma tuý gây ảnh hưởng đến hệ thần kinh của con người khi sử dụng, nó làm cho con người mất đi lý trí, hành xử một cách vô ý thức và gây ra nhiều tệ nạn xã hội mà không thể lường trước được. Do đó Đảng, Nhà nước và toàn dân đang ra sức phòng và chống các tệ nạn về ma túy. Mọi hoạt động có liên quan đến ma túy phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép theo quy định pháp luật. Hai bị cáo là người đã thành niên, biết rất rõ về tác hại của chất ma túy và mọi hoạt động trái pháp luật liên quan đến ma túy điều bị pháp luật nghiêm cấm. Nhưng hai bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy một cách trái pháp luật với lỗi cố ý trực tiếp và hành vi này của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy và được pháp luật hình sự bảo vệ. Nên cần phải lên cho hai bị cáo một mức án cân xứng với tính chất, hành vi phạm tội của các bị cáo.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo:

Hai bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Sau khi phạm tội các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo là lao động chính trong gia đình, nên đây thuộc các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

[4] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

- Tịch thu, tiêu hủy gồm: tinh thể rắn màu trắng (sau giám định) có khối lượng 1,0239 gam và 1,0131 gam được để trong Ph bì niêm Ph số 67/M1 và 67/M2; 01 vỏ gói thuốc lá hiệu 555 màu xanh; 02 đoạn thủy tinh không rõ hình dạng;

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đỏ, loại màn hình cảm ứng của bị cáo Chung Hoài Ph sử dụng liên lạc mua ma túy.

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Trường A 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu trắng.

- Trả lại cho bị cáo Chung Hoài Ph 6.113.000 đồng (sáu triệu một trăm mười ba nghìn đồng).

[5] Đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa hôm nay phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận. Tuy nhiên mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo Nguyễn Trường A còn có phần nghiêm khắc, nên cần căn nhắc lại cho bị cáo Trường A.

[6] Về án phí: Bị cáo Chung Hoài Ph và bị cáo Nguyễn Trường A phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Chung Hoài Ph và bị cáo Nguyễn Trường A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Chung Hoài Ph 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính kể từ ngày 03/02/2023.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trường A 01 (một) năm tù. Thời hạn phạt tù tính kể từ ngày 03/02/2023.

- Về vật chứng: Căn cứ điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

- Tịch thu, tiêu hủy gồm: tinh thể rắn màu trắng (sau giám định) có khối lượng 1,0239 gam và 1,0131 gam được để trong Ph bì niêm Ph số 67/M1 và 67/M2; 01 vỏ gói thuốc lá hiệu 555 màu xanh; 02 đoạn thủy tinh không rõ hình dạng;

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đỏ, loại màn hình cảm ứng của bị cáo Chung Hoài Ph.

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Trường A 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu trắng. Trả lại cho bị cáo Chung Hoài Ph 6.113.000 đồng (sáu triệu một trăm mười ba nghìn đồng).

- Về án phí: Buộc bị cáo Chung Hoài Ph và bị cáo Nguyễn Trường A mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm, các bị cáo có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để xin Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử lại phúc thẩm.

Cỡ chữ