- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Minh H phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Minh H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 47/2023/HS-ST Ngày: 21-8-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quản
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Hằng, bà Thanh Thị Minh Hiền
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Phương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hậu - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2023, tại tr s Toà án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự sơ thẩm th lý số 29/2023/TLST-HS ngày 02 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa v án ra xét xử số 47/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 8 năm 2023, đối với bị cáo:
Đỗ Minh H, sinh năm 1994, tại tỉnh Bến Tre. Nơi thường trú: Số C đường N, khu phố B, phường G, thành phố B, tỉnh Bến Tre. Chỗ : Số nhà B đường T, khu phố C, phường X, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 04/12; Dân tộc: Kinh; Giới t nh: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn T và bà Huỳnh Thị D; Vợ: Võ Thị Cẩm H1 (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ từ ngày 14/01/2023 đến ngày 21/01/2023 bị tạm giam cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh B; có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa: Luật sư Bùi văn T1, thuộc Văn phòng L, Đoàn Luật sư tỉnh B. Địa chỉ: 9 T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. (có mặt)
- Người làm chứng: Ông Đặng Văn P, sinh năm 1968. Địa chỉ: Khu phố A, phường X, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Cáo trạng, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Đỗ Minh H là người sử d ng ma túy, thông qua bạn bè ngoài xã hội, H biết một người thanh niên tên B (không rõ nhân thân, lai lịch) Thành phố Hồ Ch Minh có bán ma túy nên khoảng 07 giờ ngày 12/01/2023, khi H đang P thì H gọi điện thoại (H không nhớ sử d ng số điện thoại nào) đến số điện thoại 0963378072 của B để hỏi mua ma túy K và thuốc lắc (MDMA) với số tiền 36 triệu đồng, nhưng không nói rõ số lượng ma túy mỗi loại; H nói với B cho H trả trước 16 triệu đồng, nợ lại 20 triệu đồng. B đồng ý và nói với H khi nào vào đến đường L, quận G, Thành phố Hồ Ch Minh thì gọi cho B. Sau khi gọi cho B xong, khoảng 09 giờ ngày 12/01/2023, H đến vòng xoay B thuộc thành phố P để đón xe khách vào Thành phố Hồ Ch Minh mua ma túy. Khoảng 14 giờ ngày 12/01/2023, khi H vào đến đường L, quận G, Thành phố Hồ Ch Minh thì gọi điện thoại báo cho B biết là đã đến nơi; B nói đợi một chút sẽ có người ra đưa ma túy. Sau khi liên lạc với B thì H đã xóa lịch sử liên lạc với B trong máy điện thoại của H. Khoảng 30 phút sau, khi H đang đứng đợi đường L (H không nhớ vị tr c thể) thì có một người thanh niên đeo khẩu trang, không rõ nhân thân lai lịch, điều khiển xe máy (H không để ý đặc điểm xe) chạy đến hỏi H “có phải anh H không?”, H trả lời “đúng rồi”. Người này đưa cho H một bịch màu đỏ có quai xách. H không m bịch ra kiểm tra nhưng H biết bên trong có chứa ma túy nên H đưa cho người thanh niên 16 triệu đồng, người này nhận tiền và điều khiển xe máy chạy đi. H mang bịch màu đỏ chứa ma túy đón xe khách về lại P. Khoảng 20 giờ ngày 12/01/2023 khi về tới phòng trọ, H m bịch màu đỏ ra kiểm tra thấy bên trong có ma túy thuốc lắc và ma túy hàng khay. H vứt bịch màu đỏ đi, còn tất cả số ma túy H cất giấu vào hộp giấy màu xanh để trên nệm trên gác trong phòng trọ của H. Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 14/01/2023, khi H đang nhà thì có một người thanh niên tên Q, không rõ nhân thân lai lịch gọi điện cho H (theo số điện thoại nào H không nhớ), lúc này H đang dùng điện thoại hiệu Iphone của H có các sim số 0786658797 và sim số 0902718283 để nghe (H không lưu số điện thoại của Q trong danh bạ), Q hỏi mua ma túy với số lượng một hộp năm ma túy hàng khay và 10 viên ma túy thuốc lắc, H đồng ý và báo giá với Q là 4.500.000 đồng (một hộp năm ma túy hàng khay giá 2.500.000 đồng; 10 viên thuốc lắc giá 2.000.000 đồng), hai bên hẹn gặp nhau tại đường H, thành phố P. Sau khi Q gọi cho H thì H đã xóa lịch sử cuộc gọi của Q trong điện thoại rồi H m hộp giấy màu xanh lấy 01 gói ma túy hàng khay và 10 viên thuốc lắc được đựng trong 1 gói nylon mang đi giao bán. Khi H đi đến hẻm Đ đường T thuộc khu phố C, phường X, thành phố P, tỉnh Bình Thuận thấy lực lượng Công an nên H đã thả 02 gói nylon có chứa ma túy xuống đất thì bị tổ công tác thuộc Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an tỉnh Bình Thuận phối hợp Công an phường X, thành phố P kiểm tra lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Đỗ Minh H về hành vi “Tàng trữ chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác” cùng các vật chứng sau:
- Thu giữ trên nền đất gần vị tr nơi H đứng có:
+ 01gói nylon không màu, có nh p kéo màu đỏ một đầu, k ch thước (04 x 07) cm, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M1). H khai nhận chất tinh thể màu trắng này là ma túy Ketamine của H;
+ 01gói nylon không màu, có nh p kéo màu đỏ một đầu, k ch thước (04 x 07) cm, bên trong có chứa 10 viên nén màu t m hình cái khiên, một mặt có một gạch dọc, một mặt có chữ “TESLA" (ký hiệu M2). H khai nhận 10 viên nén màu t m này là ma túy thuốc lắc của H.
- Thu giữ trong túi quần bên trái mà H đang mặc 01 điện thoại di động loại cảm ứng màu đen, hiệu Iphone 11 Pro Max, bên trong điện thoại chứa sim số 078.665.8797 và sim số 090.271.8283. H khai nhận đây là điện thoại của H.
(Bút l c số 01- 02, 80, 84, 93-100)
Vào lúc 0 giờ 05 phút ngày 15/01/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình Thuận đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ của Đỗ Minh H tại số nhà B đường T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, theo Lệnh khám xét khẩn cấp, thu giữ trong hộp giấy hình vuông màu xanh, đặt trên nệm, trên gác (phòng ngủ) của Đỗ Minh H, bên trong có:
01. 15 gói nylon không màu, có nh p kéo màu đỏ một đầu, đều có k ch thước khoảng (04 x 07) cm, bên trong mỗi gói chứa chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M3);
02. 01 gói nylon không màu, có nh p kéo màu đỏ một đầu, có k ch thước khoảng (03 x 03) cm, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M4);
03. 01 gói nylon không màu, có nh p kéo màu đỏ một đầu, có k ch thước khoảng (04 x 04) cm, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M5);
04. 01 gói nylon không màu, có nh p kéo màu đỏ một đầu, có k ch thước khoảng (09 x 12) cm, bên trong có:
+ 04 gói nylon không màu, có nh p kéo màu đỏ một đầu, đều có k ch thước khoảng (03 x 03) cm, bên trong mỗi gói đều chứa chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M6);
+ 01 gói nylon không màu, có nh p kéo màu đỏ một đầu, có k ch thước khoảng (04 x 07) cm, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M7);
05. 01 gói nylon không màu, có nh p kéo màu đỏ một đầu, có k ch thước khoảng (04 x 07) cm, bên trong chứa 30 viên dạng nén hình tròn, có viền răng cưa, màu vàng, một mặt có hình vương miện, mặt còn lại có một gạch ngang (ký hiệu M8);
06. 01 gói nylon không màu, có nh p kéo màu đỏ một đầu, có k ch thước khoảng (04 x 07) cm, bên trong chứa 23 viên dạng nén hình tròn, có viền răng cưa, màu vàng, một mặt có hình vương miện, mặt còn lại có một gạch ngang (ký hiệu M9);
07. 01 gói nylon không màu, có nh p kéo màu đỏ một đầu, có k ch thước khoảng (04 x 07) cm, bên trong chứa 33 viên dạng nén hình cái khiên, màu t m, một mặt có chữ TESLA, mặt còn lại có một gạch dọc (ký hiệu M10);
08. 01 gói nylon không màu, có nh p kéo màu đỏ một đầu, có k ch thước khoảng (04 x 07) cm, bên trong chứa 27 viên dạng nén hình cái khiên, màu t m, một mặt có chữ TESLA, mặt còn lại có một gạch dọc (ký hiệu M11;
09. 01 gói nylon không màu, có nh p kéo màu đỏ một đầu, có k ch thước khoảng (04 x 07) cm, bên trong chứa 30 viên dạng nén hình cái khiên, màu t m, một mặt có chữ TESLA, mặt còn lại có một gạch dọc (ký hiệu M12);
10. 01 gói nylon không màu, có nh p kéo màu đỏ một đầu, có k ch thước khoảng (04 x 07) cm, bên trong chứa 10 viên dạng nén hình cái khiên, màu t m, một mặt có chữ TESLA, mặt còn lại có một gạch dọc (ký hiệu M13);
11. 01 cân tiểu ly màu trắng, k ch thước khoảng (06 x 12) cm. H khai nhận dùng để cân ma túy
(Bút l c số 13-14)
Tại Bản Kết luận giám định số 66/KLGĐ-PC09 ngày 19/01/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận kết luận:
Mẫu M1 gửi giám định có khối lượng 4,9761 gam là Ketamine.
Mẫu M2 gửi giám định có khối lượng 3,8825 gam là MDMA.
Mẫu M3 gửi giám định có khối lượng 29,4363 gam là Ketamine.
Mẫu M4 gửi giám định có khối lượng 0,5056 gam là Ketamine.
Mẫu M5 gửi giám định có khối lượng 1,9416 gam là Ketamine.
Mẫu M6 gửi giám định có khối lượng 2,1189 gam là Ketamine.
Mẫu M7 gửi giám định có khối lượng 0,6523 gam là Ketamine.
Mẫu M8 gửi giám định có khối lượng 10,8621gam là MDMA.
Mẫu M9 gửi giám định có khối lượng 8,2799 gam là MDMA.
Mẫu M10 gửi giám định có khối lượng 13,2003gam là MDMA.
Mẫu M11gửi giám định có khối lượng 10,8443gam là MDMA.
Mẫu M12 gửi giám định có khối lượng 11,9475 gam là MDMA.
Mẫu M13 gửi giám định có khối lượng 3,9351gam là MDMA.
Tổng cộng là 62,9517 gam MDMA và 39,6308 gam Ketamine.
(Bút l c số 28-29)
Căn cứ khoản 4 Điều 5 Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 quy định về việc t nh tổng khối lượng hoặc thể t ch chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng của 2 chất Ketamine, MDMA thu giữ của Đỗ Minh H so với mức tối thiểu đối với từng chất đó được quy định tại khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự là 62,9517 % (62,9517 gam so với 100 gam) + 13,2102% (39,6308 gam so với 300 gam) = 76,1619 % nên tổng khối lượng các chất ma túy của H thuộc trường hợp quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Vật chứng của v án gồm:
- 02 gói ny lon không màu, đều có nh p kéo màu đỏ một đầu, mỗi gói ny lon k ch thước khoảng (04 x 07) cm; 4,6523 gam mẫu M1 và 2,7816 gam mẫu M2 còn lại sau giám định: Được niêm phong trong phong bì dán giấy NIÊM PHONG MẪU SAU GIÁM ĐỊNH số 66/1 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T2 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận.- 22 gói ny lon không màu, đều có nh p kéo màu đỏ một đầu, mỗi gói ny lon k ch thước khoảng (04 x 07) cm, 01 gói ny lon không màu, có nh p kéo màu đỏ một đầu, k ch thước (09 x 12) cm; 05 gói ny lon không màu, có nh p kéo màu đỏ một đầu, mỗi gói ny lon k ch thước (03 x 03) cm; 01 gói ny lon không màu, có nh p kéo màu đỏ một đầu, k ch thước (04 x 04) cm; 28,5217 gam mẫu M3; 0,3241 gam mẫu M4; 1,6752 gam mẫu M5; 1,8623 gam mẫu M6; 0,4253 gam mẫu M7; 9,0512 gam mẫu M8; 6,4756 gam mẫu M9; 11,3912 gam mẫu M10; 9,0331 gam mẫu M11; 10,0372 gam mẫu M12 và 2,8507 gam mẫu M13 còn lại sau giám định: Được niêm phong trong hộp giấy dán giấy NIÊM PHONG MẪU SAU GIÁM ĐỊNH số 66/2 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T2 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự
- Công an tỉnh Bình Thuận.- 01 cân tiểu ly màu trắng, k ch thước khoảng (06 x 12) cm. - 01 điện thoại di động loại cảm ứng màu đen, hiệu Iphone 11 Pro Max, bên trong điện thoại chứa sim số 078.665.8797 và sim số 090.271.8283. Được niêm phong trong phong bì bằng giấy màu trắng, k ch thước khoảng (20x14) cm, trên phong bì có chữ ký của Phạm Hoài T3, Phạm Duy K1, Đỗ Minh H.Tại Cáo trạng số 20/CT-VKSBT-P1 ngày 29/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận truy tố bị cáo Đỗ Minh H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự.Tại phiên tòa:-Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp d ng: Điểm h khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Đỗ Minh H từ 16 năm đến 17 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; không áp d ng hình phạt bổ sung; tịch thu sung quỹ nhà nước điện thoại di động của Đỗ Minh H; tịch thu ttiêu hủy 01 cân tiêu ly và toàn bộ mẫu vật được hoàn lại sau giám định. - Người bào chữa: Thống nhất tội danh và khung hình phạt như cáo trạng đã truy tố. Bị cáo bán ma túy nhưng chưa bán được đã bị bắt. Đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc, xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.- Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố t ng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ t c quy định của Bộ luật tố t ng hình sự và không có khiếu nại của những người tham gia tố t ng. Các hành vi, quyết định tố t ng của Điều tra viên, Kiểm sát viên là hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Minh H đã khai nhận hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ, đủ cơ s kết luận: Ngày 14/01/2023, tại khu phố C, phường X, thành phố P, Đỗ Minh H đang đi giao bán 4,9761 gam Ketamine và 3,8825 gam MDMA cho đối tượng tên Q thì bị lực lượng Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an tỉnh B phối hợp với Công an phường X, thành phố P kiểm tra lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Qua khám xét đã thu giữ tại nhà trọ của H số nhà B đường T thuộc khu phố C, phường X, thành phố P 59,0692 gam MDMA và 34,6247 gam Ketamine. Tổng cộng khối lượng ma túy mà Đỗ Minh H tàng trữ với m c đ ch để sử d ng và bán trái phép cho người khác là 62,9517 gam MDMA và 39,6308 gam Ketamine. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội.
Xét thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội và nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác, nên cần phải xử lý nghiêm để răn đe và phòng ngừa tội phạm chung. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp d ng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để quyết định mức hình phạt phù hợp. Theo quy định tại Điều 50 Bộ luật Hình sự, thì nhân thân của bị cáo là một trong các căn cứ quyết định hình phạt, bị cáo có nhân thân tốt nên sẽ được giảm nhẹ hình phạt, nhưng nhân thân tốt không phải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên Hội đồng xét xử không áp d ng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo buôn bán ma tuý nhằm thu lợi bất ch nh nên cần thiết áp d ng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 điện thoại di động và 01 cân tiểu ly màu trắng, bị cáo khai nhận dùng vào việc liên lạc mua bán trái phép chất ma túy. Do đó, cần tịch thu sùng vào ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Đối với số ma túy còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành, nên cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố t ng hình sự.
Theo lời khai của bị cáo về đối tượng tên B là người đã bán ma túy cho bị cáo và đối tượng tên Q là người đã mua ma túy của bị cáo vào ngày 14/01/2023: do không rõ nhân thân, lai lịch của những người này nên không có căn cứ để điều tra, xử lý. Đối với ông Đỗ Minh M là người đã cho H thuê nhà: quá trình điều tra ông M khai không biết H tàng trữ chất ma túy trong nhà trọ nhằm m c đ ch bán trái phép cho người khác nên không có căn cứ để kh i tố, điều tra, xử lý.
Về án ph : Bị cáo phải chịu án ph hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố t ng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/20016 của Ủy ban Thường v Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào: Điểm h khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Minh H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Đỗ Minh H 16 (mười sáu) năm tù, thời hạn tù t nh từ ngày 15/01/2023.
Hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Minh H 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố t ng hình sự;
1. Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước:
+ 01 điện thoại di động loại cảm ứng màu đen, hiệu Iphone 11 Pro Max (được niêm phong trong phong bì bằng giấy màu trắng, k ch thước khoảng (20x14) cm, trên phong bì có chữ ký của Phạm Hoài T3, Phạm Duy K1, Đỗ Minh H).
+ 01 cân tiểu ly màu trắng, k ch thước khoảng (06 x 12) cm.
2. Tịch thu, tiêu hủy: toàn bộ mẫu vật được hoàn lại sau giám định gồm:
+ 02 gói ny lon không màu, đều có nh p kéo màu đỏ một đầu, mỗi gói ny lon k ch thước khoảng (04 x 07) cm; 4,6523 gam mẫu M1 và 2,7816 gam mẫu M2 còn lại sau giám định: Được niêm phong trong phong bì dán giấy NIÊM PHONG MẪU SAU GIÁM ĐỊNH số 66/1 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T2 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận.
+ 22 gói ny lon không màu, đều có nh p kéo màu đỏ một đầu, mỗi gói ny lon k ch thước khoảng (04 x 07) cm, 01 gói ny lon không màu, có nh p kéo màu đỏ một đầu, k ch thước (09 x 12) cm; 05 gói ny lon không màu, có nh p kéo màu đỏ một đầu, mỗi gói ny lon k ch thước (03 x 03) cm; 01 gói ny lon không màu, có nh p kéo màu đỏ một đầu, k ch thước (04 x 04) cm; 28,5217 gam mẫu M3; 0,3241 gam mẫu M4; 1,6752 gam mẫu M5; 1,8623 gam mẫu M6; 0,4253 gam mẫu M7; 9,0512 gam mẫu M8; 6,4756 gam mẫu M9; 11,3912 gam mẫu M10; 9,0331 gam mẫu M11; 10,0372 gam mẫu M12 và 2,8507 gam mẫu M13 còn lại sau giám định: Được niêm phong trong hộp giấy dán giấy NIÊM PHONG MẪU SAU GIÁM ĐỊNH số 66/2 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T2 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận.
(Các vật chứng nêu trên theo “Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng” ngày 05/6/2023 giữa Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận và Cơ quan Cảnh sát điều tra (PC04) Công an tỉnh Bình Thuận).
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố t ng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/20016 của Ủy ban Thường v Quốc hội;
Buộc bị cáo Đỗ Minh H phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án ph hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (21/8/2023).
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND tỉnh Bình Thuận; - VKSND cấp cao tại TP . HCM; - S tư pháp tỉnh Bình Thuận; - PV06, PC04, Trại 1 (Công an tỉnh Bình Thuận); - Lưu: Hồ sơ, Tổ HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Quản |