vanban.org

Bản án 47/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Ngô Quyền, TP. Hải Phòng Tuyên án 19/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ 01 bì niêm phong số 92MT/PC09 chứa ma túy sau giám định; 01 lọ nước cất; trả lại cho chị Phạm Thị Ngọc V 01 xe m…

Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo Phạm Ngọc N phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. Về quyề… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Ngọc N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
  • Tòa quyết gì? Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ 01 bì niêm phong số 92MT/PC09 chứa ma túy sau giám định; 01 lọ nước cất; trả lại cho chị Phạm Thị Ngọc V 01 xe m…
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NGÔ QUYỀN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2023/HS-ST
Ngày 19-4-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Hảo

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lý Thị Thiên Nga

Bà Phạm Thị Bấm

- Thư ký phiên toà: Bà Lương Thị Thu Hà - Thư ký Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Đoàn Quảng Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 39/2023/TLST-HS ngày 31 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 4 năm 2023 và Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 21/TB-TA ngày 17 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:

Phạm Ngọc N, sinh ngày 13 tháng 5 năm 1976 tại Hải Phòng. Nơi đăng ký thường trú: Đường M, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng; nơi tạm trú: Đường L, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: N; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt N; con ông Phạm Hữu Luân (đã chết) và bà Nguyễn Thị Ngọc Oanh; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: Tại Bản án số 78/2005/HSST ngày 11/4/2005, Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ ngày 16/12/2022; tạm giam ngày 19/12/2022; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Phạm Thị Ngọc V, sinh năm 1979; nơi đăng ký thường trú: Đường H, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng; nơi tạm trú: Đường M, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 16/12/2022, Phạm Ngọc N điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 15B2-506.20 từ nhà đến khu vực đường tàu Bình Hải, phường Máy Chai, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng để tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây, N gặp và hỏi mua của người phụ nữ không quen biết 200.000 đồng được 01 gói ma túy. Mua được ma túy, N đi đến khu vực đường 100m thuộc tổ 31 phường Đông Khê, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tìm nơi sử dụng ma túy. Khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, khi N đang chuẩn bị sử dụng ma túy thì bị Công an phường Đông Khê bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ: 01 gói nilon kích thước 02cm x 2cm bám dính chất bột màu trắng (mẫu số 1); 01 xilanh bằng nhựa, hình trụ, đường kính khoảng 1,5cm bên trong chứa chất bột màu trắng (mẫu số 2); 01 lọ nước cất; 01 xe mô tô nhãn hiệu Jupiter màu đen vàng, biển kiểm soát: 15B2-506.20.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của N không phát hiện, thu giữ đồ vật gì liên quan đến vụ án.

Tại Kết luận giám định số 92/KL-KTHS(MT) ngày 16/12/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Chất bột màu trắng bám dính trong vỏ túi nilon của mẫu số 1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine; không đủ điều kiện xác định khối lượng chất ma túy bám dính. Chất bột màu trắng của mẫu số 2 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,16 gam, là loại Heroine.

Mẫu nước tiểu của N dương tính với test thử chất ma túy Heroine.

Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Jupiter màu đen vàng, biển kiểm soát: 15B2-506.20 có số khung, số máy nguyên thủy của nhà sản xuất, không bị tẩy xóa, không phải tang vật của vụ án khác. Chị Phạm Thị Ngọc V (là em gái của bị cáo Phạm Ngọc N) khai nhận chiếc xe là của chị V mua của chị Lê Thị Ninh - chủ cửa hàng xe máy Mạnh Tuấn, địa chỉ: Tổ 17 cụm 3, phường Đông Khê, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng vào ngày 12/4/2018 với giá 14.100.000 đồng. Chị V có cho bị cáo Phạm Ngọc N mượn làm phương tiện đi lại nhưng không biết việc bị cáo N sử dụng chiếc xe trên để đi mua ma túy. Chị V đề nghị được trả lại chiếc xe trên.

Về vật chứng: 01 bì niêm phong số 92MT/PC09 chứa ma túy sau giám định; 01 lọ nước cất; 01 xe mô tô màu đen vàng nhãn hiệu Jupiter, biển kiểm soát: 15B2-506.20, số khung: RLCJ5B9608Y022765, số máy: 5B96022765 đã qua sử dụng chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng quản lý.

Tại Bản Cáo trạng số 49/CT-VKSNQ ngày 27/3/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Phạm Ngọc N về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo Phạm Ngọc N khai nhận hành vi đã thực hiện phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Chị Phạm Thị Ngọc V đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho chị chiếc xe mô tô màu đen vàng nhãn hiệu Jupiter, biển kiểm soát: 15B2-506.20, số khung: RLCJ5B9608Y022765, số máy: 5B96022765 để làm phương tiện đi lại.

Kiểm sát viên tại phiên toà, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Phạm Ngọc N với mức án từ 18 tháng đến 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 bì niêm phong số 92MT/PC09 chứa ma túy sau giám định; 01 lọ nước cất; trả lại cho chị Phạm Thị Ngọc V 01 xe mô tô màu đen vàng nhãn hiệu Jupiter, biển kiểm soát: 15B2-506.20, số khung: RLCJ5B9608Y022765, số máy: 5B96022765 đã qua sử dụng. Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

- Về tội danh:

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, nội dung bản cáo trạng và các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 16/12/2022, tại khu vực đường 100m thuộc tổ 31 phường Đông Khê, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, Phạm Ngọc N bị Công an phường Đông Khê bắt quả tang khi đang cất giấu trái phép 0,16 gam chất ma túy Heroine để sử dụng cho bản thân. Như vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng với quy định của pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma tuý, xâm phạm trật tự trị an xã hội, làm phát sinh nhiều loại tội phạm hình sự khác. Vì vậy, cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa tội phạm.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo có 01 tiền sự: Tại Bản án số 78/2005/HSST ngày 11/4/2005, Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy nên bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, có mẹ là người có công với Cách mạng nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về hình phạt bổ sung:

Do bị cáo không có tài sản và thu nhập nên không cần thiết bắt bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

- Về việc xử lý vật chứng:

Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, cần tịch thu tiêu huỷ 01 bì niêm phong số 92MT/PC09 chứa ma túy sau giám định; 01 lọ nước cất; trả lại 01 xe mô tô màu đen vàng nhãn hiệu Jupiter, biển kiểm soát: 15B2-506.20, số khung: RLCJ5B9608Y022765, số máy: 5B96022765 đã qua sử dụng cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Phạm Thị Ngọc V.

- Về án phí:

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Về quyền kháng cáo đối với bản án:

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho bị cáo, chưa xác minh được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ để xem xét, xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Phạm Ngọc N 18 (mười tám) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 16/12/2022.

- Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ 01 bì niêm phong số 92MT/PC09 chứa ma túy sau giám định; 01 lọ nước cất; trả lại cho chị Phạm Thị Ngọc V 01 xe mô tô màu đen vàng nhãn hiệu Jupiter, biển kiểm soát: 15B2-506.20, số khung: RLCJ5B9608Y022765, số máy: 5B96022765 đã qua sử dụng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/3/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

- Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo Phạm Ngọc N phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo đối với bản án:

Bị cáo Phạm Ngọc N được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Phạm Thị Ngọc V được quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ