- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn S phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 47/2023/HS-ST. Ngày: 12/5/2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG - TỈNH BÌNH THUẬN
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Tấn Sinh
Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Nguyễn Bá Ky
+ Bà Nguyễn Thị Tây Nguyên
-Thư ký phiên tòa: Ông Đắc Quốc Tuân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong tham gia phiên tòa: Ông Trần Hải Điền – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 31/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2023/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 4 năm 2023, đối với bị cáo:
Lê Văn S (tên gọi khác: Sáu Tà), sinh ngày 24/11/1989 tại tỉnh Bình Thuận.
Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: thôn N, xã M, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Lao động biển; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn L (đã chết) và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1953; vợ, con: chưa có; tiền sự: không.
Tiền án: Có 02 tiền án
+ Tại Bản án số 75/2020/HS-ST ngày 08/9/2023 Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/7/2021.
+ Tại Bản án số 157/2021/HSST ngày 01/12/2021 Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong xử phạt 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/01/2022.
Hoạt động nhân thân của bị cáo:
+ Tại Bản án số 42/2015/HSST ngày 20/5/2015 Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/8/2017.
Bị cáo Lê Văn S bị bắt từ ngày 24/02/2023, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 24/02/2023 Công an xã M, huyện Tuy Phong tuần tra đến khu vực thuộc thôn N, xã M, huyện Tuy Phong phát hiện bắt quả tang Lê Văn S, sinh ngày 24/11/1989, trú tại: thôn N, xã M, huyện Tuy Phong tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trong túi quần phía trước bên trái của S đang mặc có 02 đoạn ống nhựa màu xanh được hàn kín hai đầu, bên trong có chứa chất rắn dạng nén, kích thước 01×1,5cm và S khai nhận là Heroine của S tàng trữ để sử dụng cho cá nhân.
02 đoạn ống nhựa màu xanh được hàn kín hai đầu, bên trong có chứa chất rắn dạng nén, kích thước 01×1,5cm đã thu giữ của Lê Văn S được niêm phong trong phong bì ký hiệu số 01, gửi niêm phong được định danh là mẫu M. Tại Bản kết luận giám định số 227/KLGĐ-PC09 ngay 03/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận kết luận: Mẫu M gửi giám định có khối lượng 0,1476gam, là Heroine.
Lê Văn S khai nhận: Vào khoảng 08 giờ 00 phút ngày 24/02/2023S đi đến khu vực Xóm Cốt thuộc thị trấn F gặp một người đàn ông không rõ lai lịch mua được 04 tép Heroine với giá 400.000 đồng. S sử dụng hết 02 tép Heroine đã mua được, còn lại 02 tép Heroine S cất trong túi quần phía trước bên trái rồi đi về ở thôn N, xã M, huyện Tuy Phong. Khi S đang đứng trước cửa nhà thì bị lực lượng công an tuần tra phát hiện bắt giữ cùng tang vật.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Đã chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phong: 02 đoạn ống nhựa màu xanh kích thước 01×1,5cm đã được cắt lấy mẫu và 0,0712gam mẫu M còn lại được niêm phong trong phong bì số 227.
Đối người người đàn ông đã bán Heroine cho Lê Văn S ở khu vực Xóm Cốt thuộc thị trấn F, huyện Tuy Phong do chưa rõ nhân thân lai lịch nên tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
Tại Bản Cáo trạng số 46/CT-VKSTP-HS, ngày 10 tháng 4 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong đã truy tố Lê Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm a, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
+ Áp dụng: Điểm a, điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Lê Văn S từ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng đến 02 (Hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
+ Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 46, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu tiêu huỷ 02 đoạn ống nhựa màu xanh kích thước 01×1,5cm đã được cắt lấy mẫu và 0,0712gam mẫu M còn lại được niêm phong trong phong bì số 227.
Đối người người đàn ông đã bán Heroine cho Lê Văn S ở khu vực Xóm Cốt thuộc thị trấn F, huyện Tuy Phong do chưa rõ nhân thân lai lịch nên tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
- Bị cáo Lê Văn S thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong đã truy tố. Bị cáo cho rằng việc truy tố bị cáo là đúng, không oan, bị cáo đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Phong, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn S không có ý kiến, cũng như không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện, đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và biên bản phạm tội quả tang, đã làm rõ: vào khoảng 09 giờ 00 phút ngày 24/02/2023 Công an xã M, huyện Tuy Phong tuần tra đến khu vực thuộc thôn N, xã M, huyện Tuy Phong phát hiện bắt quả tang Lê Văn S, sinh ngày 24/11/1989, trú tại: thôn N, xã M, huyện Tuy Phong tàng trữ trái phép chất ma túy với khối lượng khối lượng 0,1476gam, là Heroine (Tại Bản kết luận giám định về ma túy số: 227/KLGĐ-PC09 ngay 03/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận). Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
Bị cáo Lê Văn S là người đã trưởng thành nên có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận biết hành vi lén lút cất giấu ma túy là xâm phạm đến nguyên tắc quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy nhưng do bị nghiện nên đã thực hiện hành vi này. Heroine là chất ma túy, gây ức chế làm giảm hoạt động của não bộ và hệ thống thần kinh trung ương, vì thế nó ảnh hưởng xấu đến hệ thần kinh và sức khỏe của người sử dụng nhưng để thỏa mãn cho nhu cầu của bản thân mà bị cáo đã cố ý thực hiện tội phạm. Hành vi của bị cáo rất nguy hiểm, không những tiếp tay cho các tệ nạn xã hội, làm phát sinh các loại tội phạm khác mà còn làm ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang lo lắng cho gia đình và cộng đồng dân cư. Vì vậy, cần phải xử lý bị cáo một mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để bị cáo có thời gian tu dưỡng, học tập, lao động và rèn luyện bản thân, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.
Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Bị cáo 02 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” chưa được xoá án tích; ngoài ra bị cáo cũng có nhân thân xấu, là người nghiện ma túy nên Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc khi lượng hình đối với bị cáo.
Về tang, vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu hủy 02 đoạn ống nhựa màu xanh kích thước 01×1,5cm đã được cắt lấy mẫu và 0,0712gam mẫu M còn lại được niêm phong trong phong bì số 227.
Đối người người đàn ông đã bán Heroine cho Lê Văn S ở khu vực Xóm Cốt thuộc thị trấn F, huyện Tuy Phong do chưa rõ nhân thân lai lịch nên tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau là đúng quy định của pháp luật.
Lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và xử lý vật chứng là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Bị cáo Lê Văn S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điều 268, Điều 269 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn S phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: Điểm a, điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Lê Văn S 02 (Hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt 24/02/2023.
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy 02 đoạn ống nhựa màu xanh kích thước 01×1,5cm đã được cắt lấy mẫu và 0,0712gam mẫu M còn lại được niêm phong trong phong bì số 227. (Tại biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra với Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phong ngày 10/4/2023).
Áp dụng: Khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí của Tòa án.
Buộc bị cáo Lê Văn S phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (12/5/2023).
| Nơi nhận: -VKSND huyện Tuy Phong; -CA huyện Tuy Phong; -THADS huyện Tuy Phong; -Sở tư pháp tỉnh Bình Thuận; -Bị cáo; -Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Võ Tấn Sinh |