vanban.org

Bản án 47/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 11/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố: Bị cáo NGUYỄN VĂN T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma Hình phạt: xử phạt NGUYỄN VĂN T 15(mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN VĂN T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2023/HS - ST
Ngày: 11/4/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Mây

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hợi và ông Dương Đình Đức

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Minh Hải - Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên

tham gia phiên tòa: Ông Đàm Hoàng Sơn- Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 4 năm 2023 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện

Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 34/2023/TLST-HS ngày 21/3/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2023/QĐXXST-HS ngày 31/3/2023, đối với bị cáo:

1. Họ và tên: NGUYỄN VĂN T, sinh năm 1967 tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái

Nguyên; tên gọi khác: không; Giới tính: nam;

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm H, xã B, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hoá: 7/10; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo:

không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn T và bà Phạm Thị T (đều đã chết); Có vợ là Hoàng Thị K, sinh năm 1971 và có 02 con chung, con lớn sinh năm 1991, con nhỏ sinh năm 1993. Gia đình bị cáo có 08 anh chị em, bị cáo là con thứ T trong gia đình. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/12/2022 cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Phú Bình - Có mặt

Người chứng kiến:

1. Ông Hoàng Văn C, sinh năm 1965 - vắng mặt

Nơi cư trú: Xóm V xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

2. Ông Dương Văn P, sinh năm 1975 - vắng mặt

Nơi cư trú: Xóm H, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN

1

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại

phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Qua công tác nắm tình hình, khoảng 10 giờ ngày 23/12/2022 Công an xã Thượng Đình, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên đã cử tổ công tác đến khu vực bờ kênh thuộc xóm V, xã T để kiểm tra hành chính đối với NGUYỄN VĂN T đang có mặt tại đó. Sau khi nghe yêu cầu kiểm tra T tự giác giao nộp 01 túi nilon màu trắng, bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng theo T khai nhận là ma túy Heroine của T mua để sử dụng cho bản thân. Tổ Công tác tiến hành niêm phong vật chứng ký hiệu A sau đó bàn giao T cùng vật chứng đến Công an huyện Phú Bình để điều tra làm rõ.

Ngày 24/12/2022 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Bình đã tiến

hành lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của T tại Xóm H, xã B, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Quá trình làm việc không thu giữ đồ vật tài liệu gì.

Ngày 23/12/2022, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Bình phối

hợp cùng Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên, tiến hành mở niêm phong (ký hiệu A) cân xác định khối lượng số chất bột màu trắng nghi là ma túy thu giữ của NGUYỄN VĂN T có tổng khối lượng là 0,236 gam; Lấy toàn bộ 0,236 gam niêm phong vào bì thư ký (hiệu A1) gửi phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên để giám định.

Tại bản kết luận giám định số: 112/KL -KTHS ngày 31/12/2022, của Phòng

kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Mẫu chất bột dạng cục màu trắng trong bì thư niêm phong ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 0,236 gam.

Tại cơ quan điều tra NGUYỄN VĂN T khai nhận: Do nghiện chất ma túy

nên khoảng 09 giờ 30 ngày 23/12/2022, T đi bộ từ nhà thuộc xóm Hóa, xã Bảo Lý đến khu vực phường Lương Sơn, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên để tìm mua ma túy về sử dụng. Đến nơi T gặp một người đàn ông không quen biết mua 01 bột dạng cục màu trắng là ma túy Heroine dể trong 01 túi nilon màu trắng với giá 50.000 đồng. Khi T đi về khu vực xóm V, xã T, Phú Binh thì bị cơ quan công an kiểm tra. T đã tự giác lấy toàn bộ số ma túy của T đang cầm giao nộp cho công an.

Vật chứng của vụ án gồm: 01 bì thư niêm phong ký hiệu Al, bên trong có

chứa 0,210 gam mẫu A1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu A1. Hiện đang bảo quản tại kho vật chứng của Công an huyện Phú Bình chờ xử lý

Bản cáo trạng số 49/CT-VKSPB, ngày 21/3/2023 của Viện kiểm sát nhân

dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo NGUYỄN VĂN T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình

2

sự. Tại cơ quan điều tra và trước phiên toà hôm nay bị cáo khai nhận hành vi vi phạm pháp luật như bản cáo trạng đã nêu trên.

Người chứng kiến vắng mặt, Hội đồng xét xử đã công bố lời khai của ông

Hoàng Văn Chính, Dương Văn Phong tại cơ quan điều tra, bị cáo nhất trí với lời khai của người chứng kiến không có ý kiến gì thêm.

Kết thúc xét hỏi, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình trình

bày luận tội đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo NGUYỄN VĂN T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo NGUYỄN VĂN T từ 15 đến 18 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo;

Xử lý vật chứng và trách nhiệm nộp án phí của bị cáo.

Bị cáo không tranh luận thừa nhận việc truy tố và xét xử là không oan, đúng

người, đúng tội và xin giảm nhẹ mức án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

{1}. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điểu tra Công an huyện Phú

Bình và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

{2.}Về căn cứ buộc tội: Hồi 10 giờ 00 ngày 23/12/2022, tại xóm V, xã T,

huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên, NGUYỄN VĂN T là người nghiện chất ma túy đang có hành vi cất giữ trong người 0,236 gam Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác Công an xã Thượng Đình, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên phát hiện bắt quả tang, thu giữ cùng vật chứng

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay thống nhất với lời khai tại

cơ quan điều tra và phù hợp với lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang do cơ quan công an lập hồi 10 giờ 30 phút ngày 23/12/2022, kết luận giám định cùng các tài liệu khác thu thập được trong quá trình điều tra vụ án.

Như vậy ý thức, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái

phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ đúng pháp luật.

3

Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua

bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:…

c) Heroine....có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến

500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản".

{3}. Xét tính chất, mức độ hành vi của bị cáo: Xét về tính chất vụ án là

nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, gây mất an ninh, ảnh hưởng xấu đến trật tự công cộng. Ma túy là chất gây nghiện, khi sử dụng nó làm cho con người lệ thuộc vào ma túy mất đi nhân cách, đây cũng là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác. Xét cần có mức án và buộc bị cáo cách ly xã hội để cải tạo giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

{4}. Xét nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị

cáo xuất thân từ gia đình thuần nông lương thiện, do đua đòi nên đi vào con đường nghiện ma túy, bị cáo T phạm tội lần đầu nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, trong vụ án này được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: "Người phạm tội thành khẩn khai báo" quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự nên có cơ sở chấp nhận mức án hình phạt mà vị đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị tại phiên tòa công khai. Cần áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân không có mục đích vụ lợi.

Hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định. Xét nên miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

{5}.Về vật chứng: 01 phong bì ký hiệu A1 chứa 0,201 gam ma túy loại

Heroine được hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu, xét đây là vật chứng vụ án không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Về nguồn gốc ma túy Heroine nêu trên, T khai nhận mua của một người đàn

ông không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể tại khu vực phường Lương Sơn, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên. Quá trình điều tra do không xác định được lai lịch địa chỉ của người đàn ông trên nên cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.

4

{6}. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng

cáo bản án theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ nêu trên.

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ, áp dụng pháp luật: Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s

khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 BLHS; Điều 106, Điều 329 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

2. Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố: Bị cáo NGUYỄN VĂN T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma

túy”.

Hình phạt: xử phạt NGUYỄN VĂN T 15(mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù

tính từ ngày 23/12/2022. Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án. Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

3. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong ký hiệu A1, ngoài bì

thư có ghi hoàn trả 0,201 gam mẫu A1 và vỏ bao gói còn lại sau giám định của NGUYỄN VĂN T.

(Tình trạng, đặc điểm của vật chứng như trong mô tả tại Biên bản về việc

giao nhận vật chứng ngày 04/4/2023 giữa công an huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên và chi cục THA dân sự huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên).

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn

đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ