vanban.org

Bản án 47/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình Tuyên án 30/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Bùi Văn T, Bùi Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Văn T 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính ngày tạm giữ 10/5/2023. Xử phạt bị cáo Bùi Văn Q 16 (Mười sáu) tháng tù, thời hạn tù tính ngày tạm giữ 10/5/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn T và đồng phạm - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Bùi Văn T, Bùi Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẠC SƠN
TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2023/HS-ST
Ngày: 30 - 8 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN, TỈNH HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Cao Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Tấn và ông Bùi Hồng Đông.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Phương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: Ông Lê Xuân Trường - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 74/2023/TLST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2023/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 8 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. BÙI VĂN T, sinh ngày 30 tháng 9 năm 1998 tại Lạc Sơn - Hòa Bình. Nơi ĐKHKTT/Chỗ ở: Xóm C, xã Q, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn V và bà Bùi Thị V; bị cáo có vợ là Bùi Thị B và 01 con sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không.

2. BÙI VĂN Q, sinh ngày 10 tháng 12 năm 1999 tại Lạc Sơn - Hòa Bình. Nơi ĐKHKTT/Chỗ ở: Xóm C, xã T, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ văn hoá (học vấn): 8/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn N và bà Bùi Thị C; bị cáo có vợ là Bùi Thị Diệu L và 01 con sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không.

Các bị cáo đều bị tạm giữ từ ngày 10/5/2023, tạm giam từ ngày 19/5/2023. Có mặt tại phiên tòa.

- Người tham gia tố tụng khác:

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Bùi Thị B, sinh năm 2002. Trú tại: Xóm C, xã Q, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình. Vắng mặt tại phiên toà.

Người làm chứng: Ông Bùi Văn B, sinh năm 1976. Trú tại: Phố V, xã N, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt.

Người chứng kiến: Ông Bùi Thanh L, sinh năm 1985. Trú tại: Xóm C, xã T, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt.

Ông Bùi Văn V, sinh năm 1983. Trú tại: Xóm M, xã T, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 00 phút, ngày 10/5/2023, Bùi Văn T đi xe môtô đến nhà Bùi Văn Q rủ Q cùng đi mua ma tuý về sử dụng. Q đồng ý nên T chở Q đến xóm M, xã T, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình tìm mua được từ một người đàn ông không quen biết 01 gói ma tuý với giá 200.000đ. Q là người trực tiếp trả tiền sau đó đưa ma tuý cho T cầm và cả hai đi tìm địa điểm sử dụng. Đến khoảng 11 giờ 00 phút cùng ngày thì cả T và Q bị Công an bắt quả tang tại đoạn đường thuộc xóm M, xã T, thu giữ từ trong tay Bùi Văn T 01 gói giấy bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng, các bị cáo khai là ma tuý mua để cả hai sử dụng cho bản thân.

Tang vật thu giữ được tại giai đoạn điều tra và quá trình xử lý vật chứng: Vật chứng thu giữ gồm toàn bộ số ma túy thu giữ khi bắt quả tang Bùi Văn T và Bùi Văn Q; 01 xe môtô nhãn hiệu Honda, không có biểm kiểm soát, đã qua sử dụng được xác định là tài sản của chị Bùi Thị B (vợ của Bùi Văn T). Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe cho chị Bùi Thị B. Số ma tuý thu giữ được niêm phong theo quy định của pháp luật hiện đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình chờ xử lý.

Tại kết luận giám định số 201/KL-KTHS, ngày 18/5/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hoà Bình kết luận: Chất bột dạng cục thu giữ từ bị cáo Bùi Văn T, Bùi Văn Q là Heroine, khối lượng 0,20 (Không phẩy hai mươi) gam.

Tại Bản cáo trạng số 48/CT-VKS ngày 08/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình đã truy tố các bị cáo Bùi Văn T, Bùi Văn Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Đối với người đàn ông bán ma túy cho các bị cáo tại xóm M, xã T, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình, Cơ quan điều tra chưa xác định được nhân dạng, căn cước nên Cáo trạng chưa đề cập xử lý. Đối với Bùi Thị B là chủ chiếc xe môtô mà các bị cáo dùng đi mua ma tuý, do chị B không biết Bùi Văn T lấy xe đi mua ma tuý, không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên Cáo trạng không đề cập xử lý.

Tại phiên tòa:

Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung quyết định truy tố, tội danh, điều khoản luật áp dụng đối với các bị cáo. Xác định các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự 2015. Các bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, các bị cáo là người dân tộc thiểu số theo quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51của Bộ luật hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Bùi Văn T từ 17 đến 20 tháng tù, xử phạt bị cáo Bùi Văn Q từ 13 tháng đến 17 tháng tù. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo do các bị cáo là người không có điều kiện về kinh tế. Về vật chứng của vụ án: đề nghị tịch thu, tiêu hủy phong bì niêm phong bên trong chứa chất ma túy là mẫu vật hoàn lại sau giám định.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình; không có ý kiến gì về nội dung cáo trạng phản ánh; không kêu oan. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên, của Cơ quan điều tra, của Kiểm sát viên, Viện kiểm sát trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nên xác nhận là hợp pháp. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử những người tham gia tố tụng không có khiếu nại, tố cáo hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và của người tiến hành tố tụng.

Về căn cứ xác định tội danh, điều luật áp dụng đối với các bị cáo: Ngày 10/5/2023, bị cáo Bùi Văn T, Bùi Văn Q đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý; các bị cáo cùng nhau đi mua ma tuý để sử dụng. Bị cáo Q là người trực tiếp mua và đưa cho bị cáo T giữ trong lòng bàn tay phải của mình 0,20 gam ma túy, loại Heroine mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy. Tại giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ được và các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Số lượng ma túy các bị cáo tàng trữ nằm trong khoảng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam. Như vậy, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015. Cáo trạng truy tố các bị cáo theo tội danh, điều khoản luật áp dụng là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về cá thể hoá mức hình phạt đối với từng bị cáo: Các bị cáo đã cùng nhau thực hiện tội phạm. Tuy nhiên, các bị cáo không có bàn bạc trước, không có sự phân công, phân nhiệm rõ ràng, tiếp nhận ý trí của nhau một cách tức thời nên chỉ là đồng phạm giản đơn. Trong đó, Bùi Văn T có vai trò chính; là người chủ động rủ rê, chuẩn bị phương tiện đi mua ma tuý để sử dụng, trực tiếp tàng trữ chất ma tuý. Do vậy, bị cáo T phải chịu trách nhiệm hình sự ở mức cao hơn bị cáo Q. Bị cáo Bùi Văn Q là đồng phạm có vai trò giúp sức tích cực; là người trực tiếp và dùng tiền của mình giao dịch mua bán ma tuý để sử dụng nên phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với hành vi phạm tội của mình.

Về tính chất, mức độ hành vi của các bị cáo: Tội phạm mà các bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội; đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền các chất gây nghiện của Nhà nước được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an địa phương. Bản thân các bị cáo là người có nhận thức xã hội, có hiểu biết pháp luật, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nhưng lại nghiện chất ma túy, không từ bỏ được ma túy. Ma túy là hiểm họa của xã hội, là nguyên nhân gây mất an ninh trật tự xã hội, gây ra các tệ nạn xã hội và là nguồn gốc làm phát sinh các loại tội phạm khác. Các bị cáo biết rõ tác hại của ma túy, biết nhà nước cấm tàng trữ các chất ma túy nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do vậy, cần áp dụng đối với các bị cáo mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo, đủ để cải tạo các bị cáo trở thành công dân có ích và để răn đe, phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự 2015. Tại giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đều đã thành khẩn khai báo; các bị cáo là người dân tộc thiểu số. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.

Về hình phạt bổ sung: Xét các các bị cáo là người có thu nhập không ổn định, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Vật chứng là mẫu vật Heroine hoàn lại sau giám định của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hòa Bình là các chất ma túy, là vật Nhà nước cấm tàng trữ nên cần tịch thu, tiêu hủy. Đối với chiếc xe môtô các bị cáo dùng đi mua ma tuý để sử dụng là tài sản hợp pháp của chị Bùi Thị B. Chị Bùi Thị B không có liên quan gì đến hành vi phạm tội của các bị cáo và việc Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe cho chị Bùi Thị B là đúng quy định của pháp luật, chị Bùi Thị B không có khiếu nại gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Các bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015;

1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Bùi Văn T, Bùi Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Văn T 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính ngày tạm giữ 10/5/2023.

Xử phạt bị cáo Bùi Văn Q 16 (Mười sáu) tháng tù, thời hạn tù tính ngày tạm giữ 10/5/2023.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu, tiêu hủy: 01 Phong bì niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hòa Bình bên trong có chứa chất ma túy còn lại sau giám định.

(Vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình có đặc điểm theo Biên bản giao nhận vật chứng và Phiếu nhập kho số NK 0062 ngày 14/8/2023).

4. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc các bị cáo Bùi Văn T, Bùi Văn Q mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ