- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lưu Văn L phạm tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lưu Văn L phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".
- Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ------------------------------ Bản án số: 47/2023/HS-ST Ngày 26/7/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Giang.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Thúy và bà Nguyễn Thị Phương Minh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trác Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 7 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 38/2023/HSST ngày 20 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 41/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 22/2023/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2022, đối với bị cáo:
Lưu Văn L, sinh năm 1987 tại xã HH, huyện GL, tỉnh Hải Dương. Nơi cư trú: Thôn HX, xã HH, huyện GL, tỉnh Hải Dương. Nghề nghiệp: Lái xe. Trình độ văn hóa (học vấn): 9/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Lưu Quốc B, sinh năm 1965 và bà Phạm Thị T1, sinh năm 1964. Vợ: Đặng Thị T2, sinh năm 19922; có 03 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ dinh năm 2021; Tiền sự, tiền án: Không. Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, hiện đang tại ngoại. Có mặt.
- Bị hại: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1984; địa chỉ: Khu X, thị trấn GL, huyện GL, tỉnh Hải Dương (đã chết).
Người đại diện theo pháp luật của chị Nguyễn Thị L:
+ Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1959 và bà Trần Thị T, sinh năm 1957, địa chỉ: Thôn ĐH, xã ƯH, huyện NG, tỉnh Hải Dương.
+ Anh Nguyễn Khắc T1, sinh năm 1984, địa chỉ: Khu X, thị trấn GL, huyện GL, tỉnh Hải Dương.
+ Cháu Nguyễn Thị N, sinh năm 2008, địa chỉ: Khu X, thị trấn GL, huyện GL, tỉnh Hải Dương.
+ Cháu Nguyễn Khắc T3, sinh năm 2010, địa chỉ: Khu X, thị trấn GL, huyện GL, tỉnh Hải Dương.
Người đại diện theo ủy quyền của ông K, bà T và người đại diện theo pháp luật của cháu N, cháu T3: Anh Nguyễn Khắc T1, sinh năm 1984, địa chỉ: Khu X, thị trấn GL, huyện GL, tỉnh Hải Dương.
Anh T1 vắng mặt và có đơn đề nghị vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Anh Đỗ Văn O, sinh năm 1980 và chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn T, thị trấn LC, huyện CG, tỉnh Hải Dương. Anh O, chị H vắng mặt và có đơn đề nghị vắng mặt.
+ Ông Nguyễn Văn L1, sinh năm 1977 và bà Trần Thị H1, sinh năm 1974, địa chỉ: Thôn PL, xã HD, huyện GL, tỉnh Hải Dương. Ông L1, bà H1 vắng mặt và có đơn đề nghị vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lưu Văn L là lái xe ô tô thuê cho ông Nguyễn Văn L1, sinh năm 1977, trú tại thôn PL, xã HD, huyện GL, tỉnh Hải Dương. (L có giấy phép lái xe ô tô hợp lệ số 310111002779 hạng C do Sở giao thông vận tải tỉnh Hải Dương cấp ngày 29/11/2019, có giá trị đến 29/11/2024). Khoảng 09 giờ ngày 01/01/2023, L điều khiển xe ô tô tải Biển kiểm soát (BKS): 34C-180.13 đi từ bãi vật liệu xây dựng nhà anh L1 tại thôn PL, xã HD để về nhà ở thôn HX, xã HH, huyện GL, tỉnh Hải Dương. L điều khiển xe ô tô đi theo cung đường từ thôn PL, xã HD ra Quốc lộ 37 hướng huyện GL đi NG để rẽ vào đường 191C hướng xã HH, huyện GL. Khoảng 09 giờ 10 phút cùng ngày, L điều khiển xe ô tô hướng huyện GL đi NG, đến ngã tư QP, đoạn Km42+800, Quốc lộ 37, thuộc địa phận xã HH, huyện GL, tỉnh Hải Dương. Đây là ngã tư có bố trí hệ thống đèn tín hiệu giao thông, là nơi giao nhau giữa Quốc lộ 37 và đường 191C. Theo Quốc lộ 37, chiều từ thị trấn GL đi thị trấn NG (Để xác định chiều phải trái), mặt đường Quốc lộ 37 rộng 11m được trải nhựa tương đối bằng phẳng, có vạch sơn nét đứt màu vàng để chia hai phần đường xe chạy ngược chiều. Giáp với mép đường hai bên là vỉa hè và nhà dân. Giáp mép đường phải là lối mở rộng 20m đi vào đường 191C hướng xã HH, huyện GL. Giáp mép đường trái là lối mở hướng đi xã HD, huyện GL. Trước khu vực ngã tư, tại mép đường phải được cắm các biển báo W245a "Đi chậm" và Biển W205a "Đường giao nhau". Lúc này, đèn giao thông báo tín hiệu màu đỏ và có đèn tín hiệu cho phép các phương tiện rẽ phải. Tuy nhiên, do phía trước có nhiều phương tiện khác đang dừng ở phần đường cho phương tiện rẽ phải nên L điều khiển xe ô tô dừng sát vạch kẻ tim đường cách khoảng 0,5m và bật tín hiệu xi nhan chuyển hướng rẽ phải. Cùng lúc này, chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1987, trú tại: Thôn T, thị trấn LC, huyện CG, tỉnh Hải Dương điều khiển xe mô tô BKS 34M1-041.89, sau xe chở chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1984, trú tại: Khu X, thị trấn GL, huyện GL, tỉnh Hải Dương đi đến, dừng chờ đèn đỏ ở phía trước, bên phải xe ô tô tải BKS 34C-180.13, cách mép đường bên phải khoảng 01m. Khi đèn tín hiệu giao thông chuyển màu xanh, các phương tiện giao thông đều di chuyển. Chị H điều khiển xe mô tô BKS 34M1-041.89 di chuyển đi thẳng hướng huyện NG. L điều khiển xe ô tô tải BKS 34C-180.13 với tốc độ tăng dần, khi đầu xe ô tô tải cách lối rẽ vào xã HH khoảng 05-07m, L điều khiển xe ô tô chuyển hướng rẽ phải để vào đường 191C hướng đi xã HH, huyện GL. Do khi chuyển hướng, L không chú ý quan sát nhìn gương chiếu hậu 2 bên nên không nhìn thấy chị H điều khiển xe mô tô BKS: 34M1-041.89 chở chị L đang di chuyển ở phía trước, bên phải dẫn đến thanh cản dưới phía trước bên phải đầu xe ô tô BKS 34C-180.13 va chạm vào phần đùi bên trái của chị L ngồi sau xe mô tô BKS 34M1-041.89, làm xe mô tô bị đổ, chị H, chị L ngã ra đường. Chị L bị bánh xe phía trước bên phải của xe ô tô BKS 34C-180.13 chèn lên người. Phát hiện tai nạn, L đạp phanh và dừng lại. Lúc này, có nhiều người dân gần hiện T3 chạy đến xem và hô hoán L lùi xe lại. L điều khiển xe ô tô lùi lại khoảng 01m, rồi xuống xe cùng người dân hỗ trợ đưa chị L và chị H đi cấp cứu. Do thương tích nặng nên đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, chị L tử vong. Chị H bị thương tích nhẹ. Hai phương tiện bị hư hỏng.
Tại hiện trường để lại 03 dấu vết phanh, có chiều thị trấn GL đi thị trấn NG do bánh sau ô tô tạo nên, trong đó 02 vết phanh là của 02 bánh xe ô tô bên phải, 01 vết phanh là của bánh xe ô tô phía sau bên trái, 02 dấu vết cày liên tục, do xe mô tô BKS: 34M1-041.89 đổ tạo nên, có chiều hướng huyện Gia Lộc đi huyện NG. Xe mô tô bị đổ nghiêng phải trên lối mở vào xã HH, đầu xe hướng thị trấn NG, đuôi xe hướng thị trấn GL. Tâm bánh trước, tâm bánh sau cách mép đường phải (hướng huyện Gia Lộc đi huyện NG) lần lượt là 0,7m và 1,1m. Xe ô tô BKS 34C-180.13 đỗ chếch, hướng vào lối mở đi vào xã HH, đầu xe hướng thị trấn NG, đuôi xe hướng thị trấn GL. Tâm bánh trước, tâm bánh sau cùng bên phải cách mép đường phải lần lượt là 0,3m và 1,3m. Tổ hợp vũng máu, kích thước 0,8x0,9m, tâm vũng máu cách mép đường phải 0,4m, cách tâm trục bánh trước xe mô tô BKS 34M1-041.89 hướng thị trấn NG 1,3m. Khám nghiệm phương tiện đối với xe ô tô BKS 34C-180.13, có dấu vết chùi sạch bụi bẩn còn để lại các đường song song in hằn (dạng vân vải) theo trục dọc ở mặt ngoài, phía dưới cản trước bên phải xe ô tô, có chiều từ trên xuống dưới, từ trước về sau.
Tại Kết luận giám định pháp y về tử thi số 04/GĐPY ngày 06/01/2023 của phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hải Dương, đối với chị Nguyễn Thị L, đã kết luận nguyên nhân chết do: Đa chấn thương, vết thương (Vết thương thông khoang tiểu khung, gãy xương cột sống thắt lưng, gãy xương đùi và xương cẳng chân trái).
Tại Kết luận giám định số 79/KL-KTHS ngày 24/02/2023 của phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hải Dương, về cơ chế hình thành dấu vết trên 02 phương tiện, thể hiện:
- Dấu vết chùi sạch bụi bẩn, trượt xước sơn, trượt xước kim loại tại mặt trước khung giá bảo vệ giàn nóng và dấu vết chùi sạch bụi bẩn, trượt xước sơn, trượt xước nhựa tại mặt góc cuối bên phải giá bảo vệ giàn nóng xe ô tô biển số 34C-180.13, vết đều có chiều từ trước về sau phù hợp với dấu vết trượt xước, nứt vỡ nhựa ở góc trên, bên trái biển số xe mô tô và dấu vết trượt xước nhựa bám dính tạp chất màu đen ở mặt ngoài ốp nhựa bảo vệ đèn tín hiệu phía sau bên trái xe mô tô biển số 34M1-041.89, đều có chiều từ sau lại trước.
- Dấu vết chùi sạch bụi bẩn còn để lại các đường song song in hằn (dạng vân vải) theo trục dọc ở mặt ngoài, phía dưới cản trước bên phải xe ô tô biển số 34C-180.13, có chiều từ trên xuống dưới, từ trước về sau, có đặc điểm giống với mẫu vân vải thực nghiệm từ chiếc quần bò thu giữ của nạn nhân Nguyễn Thị L.
Tại Kết luận định giá tài sản số 16/KLĐG-HĐ ngày 20/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự- Ủy ban nhân dân huyện GL, kết luận: Giá trị thiệt hại của 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave, số khung: 1257FY071649, số máy: HC12E7071717, mang BKS: 34M1-041.89, đăng ký lần đầu năm 2016, bị hư hỏng tại thời điểm tháng 01 năm 2023 là: 120.000 đồng (Một trăm hai mươi nghìn đồng).
Cáo trạng số 37/CT-VKS ngày 19/6/2023, Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương truy tố Lưu Văn L về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự (BLHS).
Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt của anh T1, xác định gia đình bị hại đã nhận đủ số tiền bồi thường từ bị cáo cho các khoản theo quy định pháp luật mà hai bên đã thỏa thuận, gia đình không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm các khoản gì khác. Anh T1 đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt của anh O, chị H và ông L1, bà H1, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì và không yêu cầu gì khác.
Tại phiên tòa:
VKSND huyện Gia Lộc giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1,2,5 Điều 65 BLHS; Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS); Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với bị cáo. Đề nghị tuyên bố: Bị cáo Lưu Văn L phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".
Đề nghị xử phạt bị cáo từ 13 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 26 đến 30 tháng, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Lưu Văn L cho UBND xã HH, huyện GL, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã HH, huyện GL, tỉnh Hải Dương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về trách nhiệm dân sự: không phải giải quyết.
Về vật chứng: Trả 01 giấy phép lái xe số 310111002779 hạng C do Sở giao thông vận tải tỉnh Hải Dương cấp ngày 29/11/2019 cho bị cáo L (khi bản án có hiệu lực pháp luật).
Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, xác định quyết định truy tố, luận tội của VKSND huyện Gia Lộc đối với bị cáo là đúng, bị cáo đã bồi thường thiệt hại đầy đủ cho gia đình bị hại và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện được xác định là hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản khám nghiệm hiện thường, bản ảnh hiện thường, kết luận pháp y về tử thi, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 09 giờ 10 phút ngày 01/01/2023, tại khu vực Ngã tư QP, đoạn Km42+800, Quốc lộ 37, thuộc địa phận xã HH, huyện GL, tỉnh Hải Dương, Lưu Văn L là người có giấy phép lái xe ô tô hợp lệ, điều khiển xe ô tô tải BKS 34C-180.13 đi trên Quốc lộ 37 hướng huyện GL đi huyện NG, xi nhan, chuyển hướng rẽ phải từ Quốc lộ 37 vào đường 191C. Khi chuyển hướng, L đã không chú ý quan sát nhìn gương chiếu hậu 2 bên, nên không phát hiện thấy xe mô tô BKS 34M1-041.89 do chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1987, trú tại thôn T, thị trấn LC, huyện CG, tỉnh Hải Dương điều khiển phía sau chở chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1984, trú tại Khu X, thị trấn GL, huyện GL, tỉnh Hải Dương đang đi phía trước bên phải cùng chiều làm thanh cản dưới phía trước bên phải đầu xe ô tô 34C-180.13 do L điều khiển va chạm vào phần đùi chân trái chị L, làm chị H mất lái, xe mô tô đổ, chị H, chị L ngã ra đường. Chị L bị bánh xe phía trước bên phải của xe ô tô BKS 34C-180.13 chèn qua người, được người dân đưa đi cấp cứu nhưng do thương tích nặng nên đã tử vong vào hồi 11 giờ 30 phút cùng ngày. Xe mô tô BKS: 34M1-041.89 bị hư hỏng, giá trị tài sản bị thiệt hại là 120.000 đồng.
Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đã được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép lái xe hạng C bị cáo phải biết các quy định, quy tắc giao thông đường bộ buộc phải chấp hành khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ; bị cáo điều khiển xe ô tô là nguồn nguy hiểm cao độ, do không chú ý quan sát nhìn gương chiếu hậu 2 bên, nên không phát hiện thấy xe mô tô do chị H điều khiển phía sau chở chị L, đang đi phía trước bên phải cùng chiều, vi phạm khoản 2 Điều 15 Luật Giao thông đường bộ năm, dẫn đến va chạm với chiếc xe mô tô này, khiến chị L tử vong, chiếc xe mô tô thiệt hại là 120.000 đồng. Do vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS nên VKSND huyện Gia Lộc truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào những quy định của Nhà nước về an toàn giao thông đường bộ, làm ảnh hưởng đến sự an toàn của hoạt động giao thông đường bộ và sự an toàn về tính mạng, tài sản của người khác nên cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm nhằm giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời nhằm mục đích đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.
T1 tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại. Vì vậy, bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại”, “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Trên cơ sở xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, tiền án, tiền sự của bị cáo, HĐXX thấy, bị cáo phạm tội với lỗi vô ý, quá trình điều khiển phương tiện tuy đã giảm tốc độ để chuẩn bị chuyển hướng nhưng lại gặp phương tiện đi ngược chiều nên đánh lái chuyển hướng sớm. Tuy nhiên, bị cáo vẫn thừa nhận nguyên nhân dẫn đến tai nạn là do bị cáo không chú ý quan sát, không phát hiện thấy chị H điều khiển xe mô tô chở chị L đi phía bên phải cùng chiều; chuyển hướng xe không đảm bảo an toàn. Xét thấy, bị cáo là người có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo đủ điều kiện được áp dụng khoản 1,2,5 Điều 65 BLHS, nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống chung của xã hội mà chỉ cần áp hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người tốt và phòng ngừa chung có hiệu quả.
Về hình phạt bổ sung: HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng:
- Đối với 01 (một) xe ô tô tải nhãn hiệu DONGFENG, BKS 34C-180.13; 01 giấy chứng nhận đăng ký số 34 000109; 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định số DA 1404583; 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm xe ô tô số 0047811, là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của ông Nguyễn Văn L1. Cơ quan CSĐT đã trả lại các tài sản trên cho ông L1 để quản lý là phù hợp, do vậy HĐXX không xem xét.
- Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA-WAVE, màu xanh, BKS 34M1-041.89 là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của vợ chồng chị Nguyễn Thị H và anh Đỗ Văn O. Cơ quan CSĐT đã trả lại các tài sản trên cho chị Nguyễn Thị H để quản lý là phù hợp, do vậy HĐXX không xem xét.
- Đối với 01 (một) chiếc quần dài dạng bò màu xanh và 01 (một) chiếc áo khoác ngoài màu đen, thu giữ, quản lý của chị Nguyễn Thị L để phục vụ công tác giám định. Cơ quan CSĐT đã trả lại cho anh Nguyễn Khắc T1, là chồng chị L để quản lý, là phù hợp, do vậy HĐXX không xem xét.
- Đối với giấy phép lái xe số 310111002779 hạng C do Sở giao thông vận tải tỉnh Hải Dương cấp ngày 29/11/2019 cho Lưu Văn L, do bị cáo không bị áp dụng hình phạt bổ sung nên trả cho bị cáo giấy phép lái xe ô tô này.
- 01 (một) USB là hình ảnh camera liên quan đến tai nạn giao thông; 02 (hai) đĩa CD là nội dung hỏi cung ghi âm đối với Lưu Văn L, đây là chứng cứ chứng minh tội phạm nên tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị hại xác định đã nhận đủ tiền bồi tH và không yêu cầu bị cáo bồi tH gì thêm. Anh O, chị H và ông L1, bà H1 không yêu cầu bị cáo bồi thường gì và không có yêu cầu gì khác. Do đó, HĐXX không xem xét.
Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Trong vụ án này, chị Nguyễn Thị H là người điều khiển xe mô tô: BKS 34M1-041.89 chở chị L đi đúng phần đường, làn đường quy định thì bị xe ô tô do L điều khiển đâm vào phía sau làm mất lái, khiến người và xe đổ ra đường, chị L bị xe ô tô do L điều khiển chèn qua người dẫn đến tử vong. Vì vậy chị H không có lỗi trong vụ tai nạn giao thông trên vì vậy không đặt vấn đề xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, các điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, khoản 1,2,5 Điều 65 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 3 Điều 106, và các điều 135, 136, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban TH vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: Bị cáo Lưu Văn L phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".
- Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Lưu Văn L 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Lưu Văn L cho UBND xã HH, huyện GL, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã HH, huyện GL, tỉnh Hải Dương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong trường hợp bị cáo L thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68, Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 125 BLTTHS: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Lưu Văn L.
- Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
2. Về xử lý vật chứng:
Trả lại 01 giấy phép lái xe số 310111002779 hạng C do Sở giao thông vận tải tỉnh Hải Dương cấp ngày 29/11/2019 cho bị cáo Lưu Văn L (Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc trả khi bản án có hiê ̣u lực pháp luâ ̣t).
3. Về án phí: Bị cáo Lưu Văn L phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết ./
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người đại diện hợp pháp của bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương; - Cơ quan điều tra, Công an huyện Gia Lộc; - Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ, Công an huyện Gia Lộc; - Cơ quan Thi hành án hình sự, Công an huyện Gia Lộc; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gia Lộc; - Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Giang |