- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mai Nguyệt T đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐH TỈNH TB Bản án số: 47/2023/HS-ST Ngày: 15/6/2023 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐH, TỈNH TB
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Bùi Tiến Hưng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Quách Đình Mạnh.
2. Ông Nguyễn Duy Quyến.
Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thuận Yến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện ĐH.
Đại diện VKSND huyện ĐH tham gia phiên toà: Ông Vũ Minh Hải- Kiểm sát viên
Ngày 15 tháng 6 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện ĐH, tỉnh TB đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 37/2023/TLST-HS ngày 21/4/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2023/QĐXXST- HS ngày 15/5/2023 đối với bị cáo:
Mai Nguyệt T, sinh ngày 19/5/1960. Tại: xã ĐL, huyện ĐH, tỉnh TB.
Nơi cư trú: thôn ĐV, xã ĐL, huyện ĐH, tỉnh TB;
Số CCCD: 034060008159 do Cục QLHC về TTXH cấp ngày 24/6/2020.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 7/10; Nghề nghiệp: Làm nông nghiệp; Con ông: Mai Nguyệt C, đã chết và bà: Lê Thị H, đã chết; Có vợ: Mai Thị S, sinh năm 1966 và có 02 con, con lớn sinh năm 1986, con nhỏ sinh năm 1989;
+Tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 57 ngày 08/02/2022 của Ủy ban nhân dân huyện ĐH về hành vi đánh bạc bằng hình thức phạt tiền 2.000.000 đồng. Đã nộp tiền ngày 16/02/2022.
+Tiền án: Không;
Nhân thân:
-Ngày 23/5/2008, bị Cơ quan Công an huyện ĐH ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 56 về hành vi đánh bạc bằng hình thức phạt phạt tiền 1.000.000 đồng, đã thi hành ngày 02/6/2008.
-Ngày 09/01/2019, bị Ủy ban nhân dân huyện ĐH ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 73 về hành vi đánh bạc bằng hình thức phạt 1.500.000 đồng, đã thi hành ngày 30/01/2019.
Bị cáo đang chấp hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Lê Đức Ch, sinh năm 1971; Bùi Công H, sinh năm 1965; Bùi Công T, sinh năm 1968; Bùi Văn H, sinh năm 1982; Cao Bá T, sinh năm 1979; Ng Văn Nh, sinh năm 1970; Nguyễn Hữu H, sinh năm 1977; Mai Nguyệt S, sinh năm 1974.
Đều trú tại: Thôn ĐV, xã ĐL, huyện ĐH, tỉnh TB
Anh Lê Đức Ch vắng mặt tại phiên tòa không có lý do - Còn lại đều có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 15 phút ngày 08/01/2023, tại miếu Thượng, thôn ĐV, xã ĐL, huyện ĐH, tỉnh TB, lực lượng Công an huyện ĐH phối hợp với Công an xã ĐL bắt quả tang Mai Nguyệt T (là người có 01 tiền sự về hành vi Đánh bạc) và các đối tượng Lê Đức Ch; Bùi Công H; Bùi Công T; Bùi Văn H; Cao Bá T; Ng Văn Nh; Nguyễn Hữu H và Mai Nguyệt S, đều trú tại xã ĐL, huyện ĐH, tỉnh TB đánh bạc thắng thua ăn tiền bằng hình Liêng, thu giữ tại chiếu bạc 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân và 4.500.000 đồng. Cơ quan Công an đã lập biên bản sự việc; biên bản quản lý vật chứng.
Quá trình điều tra, bị cáo Mai Nguyệt T và các đối tượng Lê Đức Ch, Bùi Công H, Bùi Công T, Bùi Văn H, Cao Bá T, Ng Văn Nh, Nguyễn Hữu H, Mai Nguyệt S khai nhận:
Sáng ngày 08/01/2023, khánh thành việc tu sửa miếu Thượng, thôn ĐV, xã ĐL, huyện ĐH, tỉnh TB. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, khi nhân dân đến dự khánh thành việc tu sửa miếu Thượng đã về hết, Mai Nguyệt T và các đối tượng Lê Đức Ch, Bùi Công H, Bùi Công T, Bùi Văn H, Cao Bá T, Ng Văn Nh, Nguyễn Hữu H, Mai Nguyệt S rủ nhau đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức đánh “Liêng”. Cách thức, phương pháp T và các đối tượng đánh bạc bằng hình thức đánh “Liêng” thắng thua bằng tiền như sau: Mỗi ván bài, người chơi được chia 03 quân bài và bỏ ra 10.000 đồng gọi là tiền “Gà”. Sau khi được chia 03 quân bài, người chơi sẽ xem bài và giữ bí mật, không để lộ bài cho những người cùng chơi biết. Sau đó bắt đầu tố nếu ai thấy bài mình to, những người đánh bạc còn lại có thể theo (Đặt tiền cược đúng bằng số tiền tố; mức tố cao nhất là 100.000 đồng nếu xác định bài mình lớn có thể thắng những người chơi còn lại); nếu ai không tố theo thì úp bài (Nếu cảm thấy bài của mình quá nhỏ, không thể thắng). Nếu đã úp bài thì người chơi sẽ bị mất đi số tiền “Gà” ban đầu và kết thúc ván bài tại đó. Bài lớn được tính theo thứ tự như sau: Lớn nhất là “Sáp” tức là ba lá bài cùng số. Trong “Sáp”, thứ tự “Sáp” từ bé đến lớn được tính như sau: Sáp 222; 333;......JJJ...; KKK; AAA. Trong trường hợp có nhiều người chơi có “Sáp” thì đọ “Sáp”. Ai có “Sáp” cao hơn thì người đó sẽ thắng. Lớn thứ hai là “Liêng” hay còn gọi là “Đồng hoa”. “Liêng” tức là ba lá bài cùng chất liên tiếp nhau. Trong “Liêng”, thứ tự “Liêng” từ bé đến lớn được tính như sau: A23; 234; ......QKA. Trong trường hợp có nhiều người chơi có “Liêng” thì đọ “Liêng”. Ai có “Liêng” cao hơn thì người đó sẽ thắng. Trong trường hợp “Liêng” bằng nhau thì đọ chất tính bé dần là “Rô, cơ, bích, tép”, ai có chất lớn hơn thì thắng. Lớn thứ ba là “Ảnh”, tức là cả ba lá bài đều có quân hình người, không phải là sáp; liêng. Trong trường hợp có nhiều người có “Ảnh” thì đọ chất, nếu ai có chất lớn hơn thì người đó là người thắng. Lớn thứ tư là tính điểm, trong đó các quân bài 10; J; Q; K được tính bằng không. Các quân bài 2;3;4;5;6;7;8;9 được tính tương đương với 2;3;4;5;6;7;8;9 điểm; quân A được tính 01 điểm. Cách tính điểm: Lấy ba quân bài cộng với nhau được tổng chia cho 10; số dư là điểm. Khi những người chơi có điểm bằng nhau thì đọ chất, nếu ai có chất lớn hơn thì người đó là người thắng.
Bị cáo Mai Nguyệt T khai mang theo và sử dụng 200.000 đồng đánh bạc, khi bị bắt đang thắng 40.000 đồng, để dưới chiếu và bị lực lượng Công an quản lý.
Lê Đức Ch khai mang và sử dụng 510.000 đồng đánh bạc, khi bị bắt không rõ thắng thua thế nào, toàn bộ tiền dưới chiếu và bị lực lượng Công an quản lý.
Bùi Công H khai mang và sử dụng 1.180.000 đồng đánh bạc, khi bị bắt không rõ thắng thua thế nào, toàn bộ tiền dưới chiếu và bị lực lượng Công an quản lý.
Bùi Công T khai mang và sử dụng 550.000 đồng đánh bạc, khi bị bắt đang thua 30.000 đồng, để 520.000 đồng dưới chiếu và bị lực lượng Công an quản lý.
Bùi Văn H khai mang và sử dụng 500.000 đồng đánh bạc, khi bị bắt đang thắng 600.000 đồng, để 1.100.000 đồng dưới chiếu và bị lực lượng Công an quản lý.
Cao Bá T khai mang và sử dụng 320.000 đồng đánh bạc, khi bị bắt không rõ thắng thua thế nào, toàn bộ tiền dưới chiếu và bị lực lượng Công an quản lý.
Ng Văn Nh khai mang và sử dụng 660.000 đồng đánh bạc, khi bị bắt không rõ thắng thua thế nào, toàn bộ tiền dưới chiếu và bị lực lượng Công an quản lý.
Nguyễn Hữu H khai mang và sử dụng 280.000 đồng đánh bạc, khi bị bắt không rõ thắng thua thế nào, toàn bộ tiền dưới chiếu và bị lực lượng Công an quản lý.
Mai Nguyệt S khai mang và sử dụng 300.000 đồng đánh bạc, khi bị bắt không rõ thắng thua thế nào, toàn bộ tiền dưới chiếu và bị lực lượng Công an quản lý.
Tại bản cáo trạng số 38/CT-VKSĐH ngày 20/4/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐH đã truy tố bị cáo: Mai Nguyệt T - Về tội “Đánh bạc” theo Khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Kiểm sát viên trình bày bản luận tội:
Tại phiên tòa sơ thẩm không có tình tiết nào mới, do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐH giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng đã truy tố.
Đề nghị tuyên bố bị cáo Mai Nguyệt T phạm tội: "Đánh bạc" theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
+ Về tình tiết giảm nhẹ:
Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo đã “Thành khẩn khai báo hành vi phạm tội; Bị cáo “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”; Bị cáo “Có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự” quy định tại điểm s, i khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
+ Về tình tiết tăng nặng:
Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào.
+Đề nghị áp dụng : Khoản 1 Điều 321, Điều 38; Điều 50; Điều 54; Điểm s, i Khoản 1 và 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự .
Xử phạt: Bị cáo từ 03 tháng tù đến 06 tháng tù.
-Về hình phạt bổ sung: Bị cáo đã 63 tuổi, hết tuổi lao động nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
+Về vật chứng và tài sản thu giữ:
Số tiền dùng vào đánh bạc và bộ Tú lơ khơ. Đề nghị: Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 của Bộ luật hình sự. Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 4.500.000 đồng,. Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số bộ Tú lơ khơ gồm 52 cây.
PHẦN NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[I[ Về tố tụng:
Trong quá trình điều tra, truy tố các Điều tra viên, Kiểm sát viên đã tiến hành thu thập các tài liệu, chứng cứ theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án là hợp pháp.
- Về việc vắng mặt của anh Lê Đức Ch là Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Chính đã có lời khai tại Cơ quan điều tra. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự . Hội đồng xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[II] Về nội dung:
[1] Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Mai Nguyệt T đã khai nhận toàn bộ hành vi dùng 200.000 đồng để đánh bạc cùng với các đối tượng là: Lê Đức Ch, Bùi Công H, Bùi Công T, Bùi Văn H, Cao Bá T, Ng Văn Nh, Nguyễn Hữu H, Mai Nguyệt S đánh bạc vào sáng ngày 08/01/2023 tại miếu Thượng, thôn ĐV, xã ĐL, huyện ĐH, tỉnh TB như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo Mai Nguyệt T phù hợp với biên bản bắt người có hành vi đánh bạc do Công an ĐH lập hồi 12 giờ 30 phút ngày 08/01/2023; Biên bản thu giữ tiền dùng vào Đánh bạc và bộ bài Tú lơ khơ, cũng như lời khai của những người cùng chơi đánh bạc với Mai Nguyệt T. Số tiền bị cáo T và các đối tương dùng vào đánh bạc dưới 5.000.000 đồng nhưng Mai Nguyệt T đã có 01 tiền sự về tội Đánh bạc, nên việc truy tố Mai Nguyệt T về tội “Đánh bạc” theo quy định tại Khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là đúng pháp luật.
Điều 321. Tội đánh bạc quy định:
“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:
a) Có tính chất chuyên nghiệp;
b) Tiềnhoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên;
c, Sử dụng mạng Internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;
d, Tái phạm nguy hiểm.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.
Hành vi của bị cáo Mai Nguyệt T là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự cho địa phương.
[2] Xét tính chất và mức độ của hành vi phạm tội:
Với số lượng tiền dùng vào đánh bạc là 4.500.000 đồng thì hành vi phạm tội của Mai Nguyệt T thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.
[3]Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào.
[4]Tình tiết giảm nhẹ:
Bị cáo Mai Nguyệt T được hưởng các tình tiết giảm nhẹ là: “Thành khẩn khai báo”; “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”; “Có thời gian tham gia quân đội” quy định tại điểm s, i khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, số tiền dùng vào đánh bạc không nhiều nên Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, quy định tại Điều 54 của Bộ luật Hình sự
[5]Về hình phạt bổ sung:
Bị cáo đã 63 tuổi, hết tuổi lao động nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Trong vụ án nàycòn có: Lê Đức Ch; Ng Văn Nh; Bùi Công H; Cao Bá T; Bùi Công T; Nguyễn Hữu H; Mai Nguyệt S là những người đánh bạc nhưng tổng số tiền bị cáo T và các đối tượng đánh bạc dưới 5.000.000 đồng, Ng Văn Nh; Lê Đức Ch; Bùi Công H; Cao Bá T; Bùi Công T; Nguyễn Hữu H; Mai Nguyệt S không có tiền án, tiền sự về một trong các tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc nên Cơ quan điều tra Công an huyện ĐH ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nho; Chính; Hưởng; Tùng; Tiêng; Hiệp; Song là đúng pháp luật.
Đối với Bùi Văn H: Ngày 05/9/2018, thực hiện hành vi đánh bạc, bị Ủy ban nhân dân huyện ĐH ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 5222 ngày 21/9/2018 bằng hình thức phạt 1.500.000 đồng. Hiếu chưa thi hành nhưng Cơ quan Công an huyện ĐH không tổ chức thi hành, nên đã hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hànhchính, theo quy định tại Điều 74 Luật xử lý vi phạm hành chính. Do đó Cơ quan điều tra Công an huyện ĐH ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Bùi Văn H là đúng pháp luật.
[5] Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ:
Số tiền, bộ Tú lơ khơ dùng vào việc đánh bạc. Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự. Tịch Thu sung công quỹ nhà nước số tiền 4.500.000 đồng. Tịch thu tiêu hủy bộ bài Tú lơ khơ 52 cây.
[] Về án phí Hình sự sơ thẩm: Bị cáo Mai Nguyệt T phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
[] Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
[1] Về tội danh:
Tuyên bố: Bị cáo Mai Nguyệt T - Phạm tội “Đánh bạc”
[2] Về áp dụng luật và hình phạt:
- Áp dụng Khoản 1 Điều 321, Điều 38; Điều 50; Điều 54; Điểm s, i Khoản 1 và 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự .
+ Xử phạt bị cáo 03 (ba)tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt thi hành án hoặc từ ngày bị cáo tự nguyện đi thi hành án.
[3] Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ:
- Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 4.500.000đồng.
- Tịch thu tiêu hủy bộ bài Tú lơ khơ 52 cây.
[4] Về án phí:
- Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội, quy định mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, tạm ứng án phí.
Bị cáo Mai Nguyệt T phải chịu 200.000đ tiền án phí Hình sự sơ thẩm.
[] Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày. Thời hạn kháng cáo đối với Bị cáo và Người có Quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; Đối với anh Lê Đức Ch vắng mặt tại phiên tòa tính từ ngày tống đạt hợp lệ bản án./.
| Nơi nhận Bị-- Bị cáo V- - VKS, CA, THA h ĐH. -VKS tỉnh TB. Bị-- Người CQLNVLQ. - - Sở tư pháp ( khi án có hiệu lực) - - Lưu HS, VP. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đã ký Bùi Tiến Hưng |