vanban.org

Bản án 47/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Phú Thọ Tuyên án 26/07/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 26/07/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Hủy hoại rừng”.

Xử phạt: Nguyễn Văn B 21 (Hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án. Duy trì Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 11, ngày 07/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh P đối với Nguyễn Văn B. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Bốn - Hủy Hoại Rừng - phạm tội hủy hoại rừng (điều 243 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Hủy hoại rừng”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 243 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH P

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:47/2023/HS-PT
Ngày 26 tháng 7 năm 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH P

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa Pên toà: Bà Điêu Thị Bích Lượt

CácThẩm phán:

Ông Hoàng Tiến Dũng

Ông Nguyễn Quang Vũ

Thư ký Pên toà: Lê Hồng Đăng-Thư ký Toà án nhân dân tỉnh P.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh P tham gia Pên toà: Bà Trương Thị Kim Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân (TAND) tỉnh P, đưa ra xét xử theo trình tự phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 74/2023/TLPT-HS ngày 16/6/2023. Do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn B đối vớiBản án hình sự sơ thẩm số: 13/2023/HSST ngày 26/4/2023 của TAND huyệnY, tỉnh P.

Bị cáo kháng cáo:

Nguyễn Văn B, Tên gọi khác: Không, Sinh ngày: 27/5/1984 tại xã Đ, huyện Y, tỉnh P; Nơi ĐKHKTT: Khu Đồng Khanh, xã Đ, huyện Y, tỉnh P. Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 9/12; Chức vụ đảng, đoàn thể: Không; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn T, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1965; Vợ: Hoàng Thị L, sinh năm 1990; Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2013;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam: Hiện tại ngoại (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Hoàng Thị Thanh H - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh P (có mặt).

Nguyên đơn dân sự: Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Y, tỉnh P.

Địa chỉ:xã Đ, huyện Y, tỉnh P

Người đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Bằng P. Chức vụ: Chủ tịch UBND.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Quốc B - Phó chủ tịch UBND (vắng mặt).

TT: Khu Đồng Tiến, xã Đ, huyện Y, tỉnh P.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại Pên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vì muốn có đất để trồng cây Ka keo nên Nguyễn Văn B, sinh ngày 27/5/1984, ở khu Đồng Khanh, xã Đ, huyện Y, tỉnh P đã nảy sinh ý định lấn chiếm đất rừng tại khu vực đồi Đá Trắng, khu Đồng Khanh, xã Đ, huyện Y do Uỷ ban nhân dân xã Đ quản lý.

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 01/02/2023, Nguyễn Văn B đi đến vị trí lô 14, khoảnh 8, tiểu khu 193, đồi Đá Trắng, khu Đồng Khanh, xã Đ, huyện Y, tỉnh P (Vị trí này Theo Quyết định số 18 ngày 30/8/2011 của UBND tỉnh P về việc duyệt quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh P giai đoạn 2011 -2020; Quyết định 1338 ngày 07/6/2016 của UBND tỉnh P về việc phê duyệt kết quả kiểm kê rừng tỉnh P năm 2015; Quyết định số 3813 ngày 28/12/2018 của UBND tỉnh P về việc phê duyệt kết quả rà soát, chuyển đổi đất, rừng phòng hộ ít xung yếu sang quy hoạch phát triển rừng sản xuất và rà soát, điều chỉnh quy hoạch ba loại rừng tỉnh P giai đoạn 2016 -2025 và định hướng đến năm 2030, đất rừng được giao cho UBND xã Đ quản lý, Hạt kiểm lâm huyên Y có trách nhiệm bảo vệ, UBND xã Đ và Hạt kiểm lâm huyện Y đã tăng cường tuyên truyền nhân dân phòng cháy chữa cháy rừng, không được lấn chiếm, khai thác, huỷ hoại rừng, tăng cường bảo vệ và phát triển rừng). Tại vị trí đất rừng này B thấy có nhiều cành cây, lá bị chết khô nên đã đi gom lại thành đống rồi dùng 01 chiếc bất lửa ga, màu vàng, đỏ mang theo trên người đốt cháy những cành cây lá khô này. Sau khi đốt khoảng 10 phút thì lửa tắt chỉ còn lại than đỏ, thì B bỏ đi đến vị trí đồi cây của gia đình mình (đồi cây của gia đình B giáp với đất rừng do UBND xã Đ quản lý, bảo vệ), cách vị trí B vừa đốt khoảng 100 m để phun thuốc trừ cỏ. Đến khoảng 16 giờ 10 phút cùng ngày B nghe thấy tiếng nổ lẹt đẹt thì thấy vị trí B vừa đốt ở đất rừng do UBND xã Đ quản lý lửa lại bùng lên và cháy lan rộng. Lúc này B nói với vợ (là chị Hoàng Thị Liên, sinh năm 1990, chị Liên không biết việc B đốt rừng) là “Cháy lan rồi”. Sau đó B và chị Liên đến để dập lửa, nhưng do trời hanh khô, lửa cháy to, lan rộng nên B và chị Liên không dập được lửa, bỏ đi về. Sau khi B đốt rừng ở vị trí lô 14, khoảnh 8, tiểu khu 193, đồi Đá Trắng, khu Đồng Khanh, xã Đ, huyện Y, tỉnh P, lửa đã cháy to, lan rộng sang các lô 47; lô 4, khoảnh 8, tiểu khu 193, đồi Đá Trắng, khu Đồng Khanh, xã Đ, huyện Y, tỉnh P, thì đượcchính quyền địa phương phát hiện, huy động quần chúng nhân dân tiến hành chữa cháy, dập lửa, đến khoảng 23 giờ cùng ngày thì ngọn lửa được khống chế và dập tắt.

Đối với Nguyễn Văn B sau khi thực hiện hành vi đốt rừng lửa cháy lan rộng thì B bỏ về nhà nhằm trốn tránh. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày Cơ quan cảnh sát điều tra (CSĐT) triệu tập B đến làm việc, B đã khai nhận hành vi đốt rừng của mình như trên.

Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, trưng cầu giám định, yêu cầu định giá để xác định vị trí, diện tích, loại rừng, trạng thái rừng, thiệt hại mà Nguyễn Văn B đã đốt cháy gây ra:

Kết quả khám nghiệm hiện trường thể hiện: Hiện trườngxảy ra vụ đốt cháy rừng ở vị trí tại lô 14, lô 4, lô 47 khoảnh 8, tiểu khu 193 tại đồi Đá Trắng, khu Đồng Khanh, xã Đ, huyện Y, tỉnh P. Diện tích rừng bị cháy được đo toạ độ tại 16 điểm, rồi nối các điểm toạ độ với nhau xác định được tổng diện tích bị cháy là 47.650 m2. Lâm sản bị thiệt hại trên diện tích 47.650 m2 gồm: Cây gỗ thực vật thông thường gồm 157 cây, có chiều cao trung B từ 01 mét đến 02 mét, toàn bộ đã bị cháy than hoá phần vỏ, tán cây bị héo lá, không có khả năng phục hồi. Cây giang: Toàn bộ cây giang bị cháy hoàn toàn phần lá, phần thân cây bị cháy dang dở, phần còn lại không bị cháy đã chuyển sang màu vàng cát không có khả năng phục hồi. Xác định mật độ cây giang là 400 cây/1 ha, tổng số cây giang thiêt hại là 1.906 cây.

Ngày 07/2/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã ra Quyết định số 08 trưng cầu Chi cục Kiểm lâm tỉnh P giám định vị trí bị cháy rừng thuộc loại rừng gì, trạng thái rừng, loại thực vật rừng thiệt hại. Tại bản Kết luận giám định tư pháp ngày 17/02/2023 của Chi cục kiểm lâm tỉnh P đã kết luận:

Hiện trường vụ cháy tại các lô 14, lô 4, lô 47 khoảnh 8, tiểu khu 193 tại đồi Đá Trắng, khu Đồng Khanh, xã Đ, huyện Y, tỉnh P xác định diện tích rừng bị cháy là 47.650m2, thảm thực bì dưới tán rừng bị cháy hoàn toàn, cây thân gỗ bị thiệt hại sau cháy rừng gồm: Ba bét, Dung (Dung giấy), Khế, Phổi bò, Sồi, Trẩu,...; thực vật rừng ngoài gỗ bị thiệt hại gồm: Giang (thuộc phân họ tre, nứa). Tại thời điểm giám định không phát hiện thấy thực vật rừng, động vật rừng thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quy hiếm và phụ lục CITES bị thiệt hại. Thiệt hại cây gỗ là 157 cây gỗ, có tổng trữ lượng cây đứng 4,623m3, (trữ lượng cây đứng tương đương 0,970m3/ha) và 1.906 cây Giang (tương đương mật độ 400 cây/ha). Đối chiếu với Thông tư số 33/2018/TT-BNNPTNT ngày 16/11/2018 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn quy định về điều tra, kiểm kê và theo dõi diễn biến rừng và các quy định của pháp luật thì các lô rừng bị cháy nêu trên có trạng thái là rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc rừng chưa có trữ lượng.

Kết luận: Diện tích rừng bị cháy 47.650m2 ngày 01/02/2023 tại các lô 47;14;4, khoảnh 8, tiểu khu 193, đồi Đá Trắng thuộc khu Đồng Khanh, xã Đ, huyện Y, tỉnh P là rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc rừng chưa có trữ lượng.

Ngày 22/02/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Y định giá 157 cây gỗ tái sinh thuộc loài thông thường có khối lượng 4,623m3 và 1.906 cây Giang. Tại bản Kết luận định giá tài sản số 03/KL-HĐĐGTS ngày 27/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Y đã kết luận: 157 cây gỗ tái sinh thuộc loài thông thường có trữ lượng cây đứng là 4,623m3 có trị giá: 1.941.800 đồng.1.906 cây Giang có trị giá là: 8.577.000 đồng.Tổng cộng: 10.518.800 đồng.

Hành vi của Nguyễn Văn B dùng một chiếc bật lửa ga để đốt trái phép thảm thực vật khô tại vị trí lô 14, khoảnh 8, tiểu khu 193, đồi Đá Trắng, khu Đồng Khanh, xã Đ, huyện Y, tỉnh P dẫn đến cháy toàn bộ diện tích 47.650 m2, thuộc các lô 14, lô 47; lô 4, khoảnh 8, tiểu khu 193, đồi Đá Trắng là đất rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc rừng chưa có trữ lượng và thiệt hại về lâm sản là 10.518.800 đồng. Hành vi này đủ yếu tố cầu thành tội “Huỷ hoại rừng” theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 243 Bộ luật hình sự.

Tại Cơ quan CSĐT Nguyễn Văn B đã khai toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu. Lời khai của B phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Nguyên đơn dân sự trình bày tại các lời khai trong hồ sơ: Bị cáo phạm tội vì thiếu hiểu biết, chỉ vì muốn làm kinh tế gia đình đã phá, đốt rừng sản xuất. Đề nghị bị cáo pH bồi thường thiệt hại diện tích rừng đã gây ra theo định giá để bảo tồn giữ nguyên hiện trạng rừng để rừng tái sinh. Đề nghị xử phạt bị cáo mức án phù hợp với pháp luật. Tại Pên tòa phúc thẩm UBND xã Đ có đơn đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 13/2013/HS-ST gày 26/4/2023 Toà án nhân dân huyện Y đã quyết định:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 243, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Hủy hoại rừng”.

Xử phạt: Nguyễn Văn B 21 (Hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án.

Ngoài ra bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự, quyền yêu cầu thi hành án, án phí và các nội dung khác.

Ngày 08/5/2023, bị cáo Nguyễn Văn B kháng cáo xin được hưởng án treo

Tại Pên tòa phúc thẩm:

Bị cáo giữ nguyên kháng cáo, tại cấp phúc thẩm bị cáo trình bày sau khi xét xử sơ thẩm nguyên đơn dân sự là UBND xã Đ, huyện Y có văn bản trình bày bị cáo ở địa phương là công dân tốt, luôn chấp hành tốt chủ trương đường lối pháp luật của Đảng và Nhà nước, gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo, nên UBND xã Đ xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đề nghị cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội. Ngoài ra bị cáo trình bày bản thân bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng sâu, vùng xa tại xã đặc biệt khó khăn thuộc trường hợp được trợ giúp pháp lý

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh P trình bày quan điểm giải quyết vụ án: Tại Pên tòa bị cáo xuất trình thêm tình tiết giảm nhẹ mới nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, áp dụng Điều 36 BLHS xử phạt bị cáo 21 tháng cải tạo không giam giữ, miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo, nhưng buộc bị cáo pH thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại Pên tòa, căn cứ kết quả tranh luận; trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo trong hạn luật định, đơn hợp lệ được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Về những chứng cứ xác định bị cáo có tội: Tại cơ quan điều tra, Pên tòa sơ thẩm và Pên tòa phúc thẩm bị cáo đều khai nhận đã có hành vi phạm tội nêu trên. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ căn cứ xác định:

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 01/02/2023 Nguyễn Văn B, sinh ngày 27/5/1984, ở khu Đồng Khanh, xã Đ, huyện Y, tỉnh P đã thực hiện hành vi đốt rừng trái phép dẫn đến cháy rừng tại vị trí lô 14, lô 47, lô 4, khoảnh 8, tiểu khu 193, đồi Đá Trắng, khu Đồng Khanh, xã Đ, huyện Y, tỉnh P. Hậu quả toàn bộ diện tích 47.650 m2 là rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc rừng chưa có trữ lượng tại lô 14, 47, 4, khoảnh 8, tiểu khu 193, đồi Đá Trắng, khu Đồng Khanh, xã Đ, huyện Y, tỉnh P bị huỷ hoại, thiệt hại về lâm sản là 10.518.800 đồng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Huỷ hoại rừng” được quy định tại khoản 1 Điều 243 Bộ luật hình sự.

Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Hành vi của của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về khai thác, bảo vệ rừng được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo tội: “Huỷ hoại rừng” là đúng người đùng tội, đúng pháp luật. Bị cáo kháng cáo xin được cải tạo ngoài xã hội. Tại cấp phúc thẩm bị cáo trình bày sau khi xét xử sơ thẩm nguyên đơn dân sự là UBND xã Đ, huyện Y có văn bản trình bày bị cáo ở địa phương là công dân tốt, luôn chấp hành tốt chủ trương đường lối pháp luật của Đảng và Nhà nước, gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo, nên UBND xã Đ xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đề nghị cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội. Ngoài ra bị cáo trình bày bản thân bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng sâu, vùng xa tại xã đặc biệt khó khăn thuộc trường hợp được trợ giúp pháp lý, trình độ hiểu biết pháp luật còn hạn chế. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy: Bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo không có tiền án, tiền sự, nhân thân tốt, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tại Pên tòa phúc thẩm bị cáo xuất trình thêm tình tiết giảm nhẹ mới, nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm áp dụng Điều 36 BLHS cho bị cáo hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ như trong điều luật đã quy định, việc sửa bản án sơ thẩm xác định lỗi khách quan không pH chủ quan của thẩm phán. Bị cáo thu nhập không ổn định nên không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo, nhưng buộc bị cáo pH thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ theo quy định của pháp luật.

Tại Pên toà Viện kiểm sát nhân dân tỉnh P đề nghị sửa bản án sơ thẩm áp dụng Điều 36 cho bị hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ như trong điều luật đã quy định, tại Pên toà trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo đề nghị HĐXX cho bị cáo cải tạo ngoài xã hội xét thấy đề nghị của Viện kiểm sát cũng như trợ giúp viên pháp lý phù hợp với pháp luật nên được chấp nhận.

Án phí phúc thẩm: Bị cáo thuộc trường hợp được miễn án phí

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị .

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn B. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 13/2023/HSST ngày 26/4/2023 của TAND huyệnY, tỉnh P.

Về tội danh, điều luật áp dụng và hình phạt:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 243, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Hủy hoại rừng”.

Xử phạt: Nguyễn Văn B 21 (Hai mươi mốt) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn Cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân thị xã Đ, huyện Y, tỉnh P nhận được bản sao bản án và quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Nguyễn Văn B cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Y, tỉnh P nơi bị cáo đang cư trú. Gia đình bị cáo B có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân nơi bị cáo cư trú trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo B.

Trong thời gian chấp hành án hình phạt cải tạo không giam giữ bị cáo Nguyễn Văn B pH thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng. Thời gian phục vụ cộng đồng không quá 4 giờ trong một ngày và không quá 5 ngày trong một tuần.

Trong thời gian chấp hành án bị cáo Nguyễn Văn B pH thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về Cải tạo không giam giữ.

Án phí phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn B thuộc trường hợp được miễn án phí

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không giải quyết, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

- VKSND tỉnh P;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PÊN TÒA

- VKSND huyện Y;

- Công an huyện Y

- THADS huyện Y

- Bị cáo; NĐDS

- Lưu HS, AV.

Điêu Thị Bích Lượt TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT

LẬP

NAM

TỈNH P

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2023/HS-ST

Ngày: 26/4/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẬP, TỈNH P

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ Pên toà: Ông Phạm Tuấn Anh

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Hoàng Ngọc Hân

Ông Nguyễn Đức Thiệu

Thư ký Pên toà:BàĐinh Kiều Anh - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Y, tỉnh P.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, tỉnh P tham gia Pên tòa:Ông Phạm Mạnh Hùng- Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh P xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 08/2023/TLST-HS ngày 07 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2023/QĐXXST-HS, ngày 12 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn B, Tên gọi khác: Không, Sinh ngày: 27/5/1984 tại xã Đ, huyện Y, tỉnh P; Nơi ĐKHKTT: Khu Đồng Khanh, xã Đ, huyện Y, tỉnh P. Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 9/12; Chức vụ đảng, đoàn thể: Không; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn Tâm, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị Thảo, sinh năm 1965; Vợ: Hoàng Thị Liên, sinh năm 1990; Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tốt; Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam, hiện đang chấp hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 11, ngày 07/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh P (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Hoàng Thị Thanh H - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh P (có mặt).

Nguyên đơn dân sự: Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Y, tỉnh P. Người đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Bằng P. Chức vụ: Chủ tịch UBND.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Quốc B - Phó chủ tịch UBND (Giấy ủy quyền ngày 25/4/2023, có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Khu Đồng Tiến, xã Đ, huyện Y, tỉnh P.

Người làm chứng:

Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1990 (vắng mặt).

Địa chỉ: Khu Đồng Phú, xã Đ, huyện Y, tỉnh P.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại Pên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vì muốn có đất để trồng cây Ka keo nên Nguyễn Văn B, sinh ngày 27/5/1984, ở khu Đồng Khanh, xã Đ, huyện Y, tỉnh P đã nảy sinh ý định lấn chiếm đất rừng tại khu vực đồi Đá Trắng, khu Đồng Khanh, xã Đ, huyện Y do Uỷ ban nhân dân xã Đ quản lý.

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 01/02/2023, Nguyễn Văn B đi đến vị trí lô 14, khoảnh 8, tiểu khu 193, đồi Đá Trắng, khu Đồng Khanh, xã Đ, huyện Y, tỉnh P (Vị trí này Theo Quyết định số 18 ngày 30/8/2011 của UBND tỉnh P về việc duyệt quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh P giai đoạn 2011 -2020; Quyết định 1338 ngày 07/6/2016 của UBND tỉnh P về việc phê duyệt kết quả kiểm kê rừng tỉnh P năm 2015; Quyết định số 3813 ngày 28/12/2018 của UBND tỉnh P về việc phê duyệt kết quả rà soát, chuyển đổi đất, rừng phòng hộ ít xung yếu sang quy hoạch phát triển rừng sản xuất và rà soát, điều chỉnh quy hoạch ba loại rừng tỉnh P giai đoạn 2016 -2025 và định hướng đến năm 2030, đất rừng được giao cho UBND xã Đ quản lý, Hạt kiểm lâm huyên Y có trách nhiệm bảo vệ, UBND xã Đ và Hạt kiểm lâm huyện Y đã tăng cường tuyên truyền nhân dân phòng cháy chữa cháy rừng, không được lấn chiếm, khai thác, huỷ hoại rừng, tăng cường bảo vệ và phát triển rừng). Tại vị trí đất rừng này B thấy có nhiều cành cây, lá bị chết khô nên đã đi gom lại thành đống rồi dùng 01 chiếc bất lửa ga, màu vàng, đỏ mang theo trên người đốt cháy những cành cây lá khô này. Sau khi đốt khoảng 10 phút thì lửa tắt chỉ còn lại than đỏ, thì B bỏ đi đến vị trí đồi cây của gia đình mình (đồi cây của gia đình B giáp với đất rừng do UBND xã Đ quản lý, bảo vệ), cách vị trí B vừa đốt khoảng 100 m để phun thuốc trừ cỏ. Đến khoảng 16 giờ 10 phút cùng ngày B nghe thấy tiếng nổ lẹt đẹt thì thấy vị trí B vừa đốt ở đất rừng do UBND xã Đ quản lý lửa lại bùng lên và cháy lan rộng. Lúc này B nói với vợ (là chị Hoàng Thị Liên, sinh năm 1990, chị Liên không biết việc B đốt rừng) là “Cháy lan rồi”. Sau đó B và chị Liên đến để dập lửa, nhưng do trời hanh khô, lửa cháy to, lan rộng nên B và chị Liên không dập được lửa, bỏ đi về. Sau khi B đốt rừng ở vị trí lô 14, khoảnh 8, tiểu khu 193, đồi Đá Trắng, khu Đồng Khanh, xã Đ, huyện Y, tỉnh P, lửa đã cháy to, lan rộng sang các lô 47; lô 4, khoảnh 8, tiểu khu 193, đồi Đá Trắng, khu Đồng Khanh, xã Đ, huyện Y, tỉnh P, thì đượcchính quyền địa phương phát hiện, huy động quần chúng nhân dân tiến hành chữa cháy, dập lửa, đến khoảng 23 giờ cùng ngày thì ngọn lửa được khống chế và dập tắt.

Đối với Nguyễn Văn B sau khi thực hiện hành vi đốt rừng lửa cháy lan rộng thì B bỏ về nhà nhằm trốn tránh. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày Cơ quan cảnh sát điều tra (CSĐT) triệu tập B đến làm việc, B đã khai nhận hành vi đốt rừng của mình như trên.

Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, trưng cầu giám định, yêu cầu định giá để xác định vị trí, diện tích, loại rừng, trạng thái rừng, thiệt hại mà Nguyễn Văn B đã đốt cháy gây ra:

Kết quả khám nghiệm hiện trường thể hiện: Hiện trườngxảy ra vụ đốt cháy rừng ở vị trí tại lô 14, lô 4, lô 47 khoảnh 8, tiểu khu 193 tại đồi Đá Trắng, khu Đồng Khanh, xã Đ, huyện Y, tỉnh P. Diện tích rừng bị cháy được đo toạ độ tại 16 điểm, rồi nối các điểm toạ độ với nhau xác định được tổng diện tích bị cháy là 47.650 m2. Lâm sản bị thiệt hại trên diện tích 47.650 m2 gồm: Cây gỗ thực vật thông thường gồm 157 cây, có chiều cao trung B từ 01 mét đến 02 mét, toàn bộ đã bị cháy than hoá phần vỏ, tán cây bị héo lá, không có khả năng phục hồi. Cây giang: Toàn bộ cây giang bị cháy hoàn toàn phần lá, phần thân cây bị cháy dang dở, phần còn lại không bị cháy đã chuyển sang màu vàng cát không có khả năng phục hồi. Xác định mật độ cây giang là 400 cây/1 ha, tổng số cây giang thiêt hại là 1.906 cây.

Ngày 07/2/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã ra Quyết định số 08 trưng cầu Chi cục Kiểm lâm tỉnh P giám định vị trí bị cháy rừng thuộc loại rừng gì, trạng thái rừng, loại thực vật rừng thiệt hại. Tại bản Kết luận giám định tư pháp ngày 17/02/2023 của Chi cục kiểm lâm tỉnh P đã kết luận:

Hiện trường vụ cháy tại các lô 14, lô 4, lô 47 khoảnh 8, tiểu khu 193 tại đồi Đá Trắng, khu Đồng Khanh, xã Đ, huyện Y, tỉnh P xác định diện tích rừng bị cháy là 47.650m2, thảm thực bì dưới tán rừng bị cháy hoàn toàn, cây thân gỗ bị thiệt hại sau cháy rừng gồm: Ba bét, Dung (Dung giấy), Khế, Phổi bò, Sồi, Trẩu,...; thực vật rừng ngoài gỗ bị thiệt hại gồm: Giang (thuộc phân họ tre, nứa). Tại thời điểm giám định không phát hiện thấy thực vật rừng, động vật rừng thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quy hiếm và phụ lục CITES bị thiệt hại. Thiệt hại cây gỗ là 157 cây gỗ, có tổng trữ lượng cây đứng 4,623m3, (trữ lượng cây đứng tương đương 0,970m3/ha) và 1.906 cây Giang (tương đương mật độ 400 cây/ha). Đối chiếu với Thông tư số 33/2018/TT-BNNPTNT ngày 16/11/2018 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn quy định về điều tra, kiểm kê và theo dõi diễn biến rừng và các quy định của pháp luật thì các lô rừng bị cháy nêu trên có trạng thái là rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc rừng chưa có trữ lượng.

Kết luận:Diện tích rừng bị cháy 47.650m2 ngày 01/02/2023 tại các lô 47;14;4, khoảnh 8, tiểu khu 193, đồi Đá Trắng thuộc khu Đồng Khanh, xã Đ, huyện Y, tỉnh P là rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc rừng chưa có trữ lượng.

Ngày 22/02/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Y định giá 157 cây gỗ tái sinh thuộc loài thông thường có khối lượng 4,623m3 và 1.906 cây Giang. Tại bản Kết luận định giá tài sản số 03/KL-HĐĐGTS ngày 27/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Y đã kết luận: 157 cây gỗ tái sinh thuộc loài thông thường có trữ lượng cây đứng là 4,623m3 có trị giá: 1.941.800 đồng.1.906 cây Giang có trị giá là: 8.577.000 đồng.Tổng cộng: 10.518.800 đồng.

Hành vi của Nguyễn Văn B dùng một chiếc bật lửa ga để đốt trái phép thảm thực vật khô tại vị trí lô 14, khoảnh 8, tiểu khu 193, đồi Đá Trắng, khu Đồng Khanh, xã Đ, huyện Y, tỉnh P dẫn đến cháy toàn bộ diện tích 47.650 m2, thuộc các lô 14, lô 47; lô 4, khoảnh 8, tiểu khu 193, đồi Đá Trắng là đất rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc rừng chưa có trữ lượng và thiệt hại về lâm sản là 10.518.800 đồng. Hành vi này đủ yếu tố cầu thành tội “Huỷ hoại rừng” theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 243 Bộ luật hình sự.

Tại Cơ quan CSĐT Nguyễn Văn B đã khai toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu. Lời khai của B phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Nguyên đơn dân sự trình bày tại các lời khai trong hồ sơ: Bị cáo phạm tội vì thiếu hiểu biết, chỉ vì muốn làm kinh tế gia đình đã phá, đốt rừng sản xuất. Đề nghị bị cáo pH bồi thường thiệt hại diện tích rừng đã gây ra theo định giá để bảo tồn giữ nguyên hiện trạng rừng để rừng tái sinh. Đề nghị xử phạt bị cáo mức án phù hợp để răn đe phòng ngừa.

Tại bản cáo trạng số 13/CT-VKSYL-HS, ngày 05/4/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, tỉnh P đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn B về tội "Hủy hoại rừng” theo điểm a khoản 1 Điều 243 của Bộ luật hình sự.

Tại Pên toà Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố Nguyễn Văn B phạm tội "Hủy hoại rừng”.

Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 243; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B từ 21 tháng đến 24 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Nguyễn Văn B theo khoản 4 Điều 243 BLHS.

Áp dụng Điều 47, khoản 1 Điều 48 BLHS; Điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS.

Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận Nguyễn Văn B đã bồi thường giá trị lâm sản, số tiền 10.518.800 đồng cho UBND xã Đ, huyện Y, tỉnh P nhận.

Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc bật lửa ga màu vàng, đỏ thu giữ của B, nay không còn giá trị sử dụng.

Bị cáo trình bày lời bào chữa: Nhất trí nội dung bản cáo trạng về tội danh truy tố và mức hình phạt. Bị cáo đã khắc phục thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra.

Trợ giúp viên pháp lýbào chữa cho bị cáo: Nhất trí với tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố và các tình tiết giảm nhẹ như Kiểm sát viên đã đề nghị. Bị cáo là công dân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, là dân tộc thiểu số cư trú ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình thuần nông, hạn chế nhất định về nhận thức pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cân nhắc phạt bị cáo mức án thấp và cho hưởng án treo cũng đủ để bị cáo cải tạo, giáo dục trở thành người công dân tốt cho xã hội.

Quá trình điều tra và tại Pên tòa Kiểm sát viên, Trợ giúp viên pháp lý, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Không có ai có tranh luận gì thêm.

Bị cáo nói lời sau cùng: Mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo ở ngoài lao động nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại Pên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 01/02/2023 Nguyễn Văn B, sinh ngày 27/5/1984, ở khu Đồng Khanh, xã Đ, huyện Y, tỉnh P đã thực hiện hành vi đốt rừng trái phép dẫn đến cháy rừng tại vị trí lô 14, lô 47, lô 4, khoảnh 8, tiểu khu 193, đồi Đá Trắng, khu Đồng Khanh, xã Đ, huyện Y, tỉnh P. Hậu quả toàn bộ diện tích 47.650 m2 là rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc rừng chưa có trữ lượng tại lô 14, 47, 4, khoảnh 8, tiểu khu 193, đồi Đá Trắng, khu Đồng Khanh, xã Đ, huyện Y, tỉnh P bị huỷ hoại, thiệt hại về lâm sản là 10.518.800 đồng.

Lời khai nhận của bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại Pên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với các biên bản: Khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường và bản ảnh hiện trường và lời khai của người tham gia tố tụng khác trong vụ án. Do vậy có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Hủy hoại rừng”. Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, tỉnh P, truy tố bị cáo theo điểm a khoản 1 Điều 243 BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Tội phạm và hình phạt được quy định như sau:

Tại Điều 243 Bộ luật hình sự quy định: Tội Hủy hoại rừng.

“1. Người nào đốt, phá rừng trái phép hoặc có hành vi khác hủy hoại rừng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a, Cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc rừng chưa có trữ lượng có diện tích từ 30.000 mét vuông (m2) đến dưới 50.000 mét vuông (m2)”;

Xét tính chất vụ án: Là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về khai thác và bảo vệ rừng, xâm phạm đến sự ổn định và bền vững của môi trường sinh thái. Về nguyên nhân phạm tội là do thiếu hiểu biết, mục đích phạm tội là muốn có đất canh tác tạo thêm thu nhập nên Nguyễn Văn B đã thực hiện hành vi phạm tội, với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo nghiêm minh trước pháp luật, nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội. Xong khi lượng hình cũng cần xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Xét về nhân thân bị cáo thấy rằng: Bị cáo là người chưa có tiền án, tiền sự, nhân thân tốt. Quá trình điều tra và tại Pên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS là: “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”. Trước khi xét xử bị cáo đã tự nguyện bồi thường đủ số tiền 10.518.800 đồng, đại diện nguyên đơn dân sự đã xác nhận là nhận đủ tiền nên bị cáo được hưởng thêm 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS. Ngoài ra bị cáo còn là người dân tộc thiểu số sống ở nơi có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

Bị cáo không pH chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Thấy rằng bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nhưng theo quy định của pháp luật và theo Chỉ thị 05/CT-TTg, ngày 18/5/2022 của Thủ tướng Chính phủ về “Tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng, xử lý tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng trái pháp luật”, từ đó cần xét xử nghiêm nhằm xây dựng ý thức bảo vệ rừng, ngăn chặn các hành vi hủy hoại rừng trong tương lai nên cần pH pH cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian thích hợp để bị cáo cải tạo vàcó cơ hội sửa chữa sai lầm, trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 4 điều 243 BLHS còn quy định: "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm". Vì bị cáo không có tài sản riêng, tài sản chung là của vợ chồng. Do vậy cần miễn hình phạt bổ sung là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện theo pháp luật của nguyên đơn dân sự đề nghị bị cáo pH bồi thường theo định giá đối với số cây lâm sản bị chặt phá thiệt hại, số tiền là 10.518.800 đồng, để quản lý phục hồi diện tích rừng khoanh nuôi tái sinh. Ngày 26/4/2023 Nguyễn Văn B đã tự nguyện bồi thường toàn bộ số tiền trên cho đại diện UBND xã Đ đã nhận đủ.

Về xử lý vật chứng:

Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT đã thu giữ của Nguyễn Văn B: 01 chiếc bật lửa ga màu vàng, đỏ là vật chứng, công cụ dùng vào việc phạm tội đốt rừng, nay không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.

Quá trình tiến hành các hoạt động tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an huyện Y, Điều tra viên; Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh P; Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, Kiểm sát viên trong quá trình kiểm sát điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại Pên tòa bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Quan điểm của kiểm sát viên, đề nghị áp dụng điều luật, mức hình phạt, trách nhiệm bồi thường dân sự và xử lý vật chứng là phù hợp pháp luật. Không chấp nhận đề nghị của Người bào chữa cho bị cáo về hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 243, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Hủy hoại rừng”.

Xử phạt: Nguyễn Văn B 21 (Hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án.

Áp dụng khoản 4 Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự;

Duy trì Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 11, ngày 07/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh P đối với Nguyễn Văn B.

Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47, khoản 1 Điều 48 BLHS; Điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS.

Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận Nguyễn Văn B đã bồi thường giá trị lâm sản bị hủy hoại số tiền 10.518.800đ (Mười triệu, năm trăm mười tám nghìn, tám trăm đồng) cho UBND xã Đ, huyện Y, tỉnh P.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc bật lửa ga màu vàng, đỏ thu giữ của B.

Vật chứng đang được tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Y theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/4/2023.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23, điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Văn B vì thuộc đối tượng là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có mặt, được quyền kháng cáo. Nguyên đơn dân sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết nơi cư trú để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh P xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ