vanban.org

Bản án 47/2023/HNGĐST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T.

Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn T được ly hôn với bà Nguyễn Thị H. Về con chung: Giao 02 con chung là Nguyễn Văn A, sinh ngày 01/3/2009 và Nguyễn Văn B, sinh ngày 28/9/2010 cho ông Nguyễn Văn T trực tiếp nuôi dưỡng; Giao 02 con chung là Nguyễn Thị C, sinh ngày 03/6/2013 và Nguyễn Thị D, sinh ngà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ông Nguyễn Văn T yêu cầu ly hôn với bà Nguyễn Thị H"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CƯ M’GAR
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2023/HNGĐ-ST
Ngày 27/9/2023
“V/v: Ly hôn”
.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ M’GAR, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Văn Thịnh.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Mạnh

2. Ông Hoàng Duy Thanh

- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Đức Đuống – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cư M’Gar.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Dương Hoàng Long – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 246/2023/TLST – HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2023, về việc “Kiện ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2023/QĐXXST- HNGĐ, ngày 25 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 33/2023/QĐST-HNGĐ ngày 11/9/2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T - Sinh năm 1981. Có mặt

Trú tại: Số 245 thôn 3, xã E, huyện M, tỉnh Đăk Lăk

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H - Sinh năm 1989. Vắng mặt

Trú tại: Số 245 thôn 3, xã E, huyện M, tỉnh Đăk Lăk

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn ông Nguyễn Văn T trình bày:

Tôi và cô Nguyễn Thị H chung sống với nhau có đăng ký kết hôn vào tháng 5/2008 tại UBND xã E, huyện M, tỉnh Đăk Lăk. Vợ chồng chung sống hòa thuận được một thời gian đầu thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, không hợp tính tình, thường xuyên cãi vã xích mích, mâu thuẫn càng trầm trọng và vợ chồng hiện đã không còn sống chung với nhau hơn nửa năm nay. Nay tôi xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn không thể hàn được, vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau nên tôi đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với cô Nguyễn Thị H.

Về con chung, tôi và cô H có 04 con chung là:

Nguyễn Văn A, sinh ngày 01/3/2009

Nguyễn Văn B, sinh ngày 28/9/2010

Nguyễn Thị C, sinh ngày 03/6/2013

Nguyễn Thị D, sinh ngày 03/01/2019

Về nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung thì tùy theo nguyện vọng của cô H các con chung, nếu không thỏa thuận được thì giải quyết theo quy định của pháp luật cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã niêm yết, tống đạt thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho bà Nguyễn Thị H nhưng bà H đều vắng mặt không có lý do nên Tòa án không tiến hành lấy lời khai và hòa giải được.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án.

Đối với Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Bị đơn không thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị H kết hôn tuân thủ đúng quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Xét thấy, có căn cứ xác định mâu thuẫn tình cảm của vợ chồng ông T, bà H đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không thể đạt được. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho ông T được ly hôn với bà H là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Giao 02 con chung là Nguyễn Văn A, sinh ngày 01/3/2009 và Nguyễn Văn B, sinh ngày 28/9/2010 cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng, giao 02 con chung là Nguyễn Thị C, sinh ngày 03/6/2013 và Nguyễn Thị D, sinh ngày 03/01/2019 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con chung, do ông T, bà H không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung: Ông Nguyễn Văn T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn T khởi kiện yêu cầu giải quyết Ly hôn với bị đơn bà Nguyễn Thị H hiện cư trú tại xã E, huyện M, tỉnh Đắk Lắk là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự: Bà Nguyễn Thị H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị H kết hôn tuân thủ đúng quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Theo nguyên đơn ông T trình bày rằng, quá trình chung sống do không hợp tính tình, bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng thường xuyên cãi vã, xích mích, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, cuộc sống vợ chồng không còn tình cảm hạnh phúc.

Qua xác minh tại địa phương xã E, huyện M là nơi ông T và bà H cư trú thì thể hiện, mâu thuẫn giữa ông T với bà H phát sinh từ đầu năm 2023 đến nay đã trầm trọng, địa phương đã hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả và ông bà đã sống ly thân. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập bà H đến Tòa án để giải quyết vụ án, tạo điều kiện cho ông T và bà H gặp gỡ giải quyết những mâu thuẫn tình cảm để đoàn tụ nhưng bà H đều vắng mặt. Điều đó chứng tỏ bà H không quan tâm đến quan hệ hôn nhân, không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Do đó, có căn cứ để xác định mâu thuẫn tình cảm của vợ chồng ông T và bà H đã đến mức trầm trọng, vợ chồng không còn tình cảm với nhau, mục đích hôn nhân không thể đạt được và hiện nay ông bà đã không còn chung sống với nhau. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T, cho ông T được ly hôn với bà H là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ pháp luật nên cần chấp nhận.

Về con chung: Ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị H có 04 con chung là Nguyễn Văn A, sinh ngày 01/3/2009; Nguyễn Văn B, sinh ngày 28/9/2010; Nguyễn Thị C, sinh ngày 03/6/2013 và Nguyễn Thị D, sinh ngày 03/01/2019.

Ông T có ý kiến về nuôi con chung là tùy theo nguyện vọng của bà H và các con chung. Tuy nhiên, xét thấy do bà H vắng mặt, không tham gia tố tụng nên không lấy được lời khai của bà H về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung.

Trong 04 con chung thì có 02 cháu Nguyễn Thị C, sinh ngày 03/6/2013; Nguyễn Thị D, sinh ngày 03/01/2019 là còn nhỏ và là con gái, cần sự chăm sóc, nuôi dưỡng của mẹ.

Do vậy, để đảm bảo sự phát triển ổn định về thể chất, tâm sinh lý cũng như quyền lợi của các con chung, cần giao 02 con chung là Nguyễn Văn A, sinh ngày 01/3/2009 và Nguyễn Văn B, sinh ngày 28/9/2010 cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng, giao 02 con chung là Nguyễn Thị C, sinh ngày 03/6/2013 và Nguyễn Thị D, sinh ngày 03/01/2019 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do đương sự không có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung: Ông Nguyễn Văn T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Ông Nguyễn Văn T phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T.

- Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn T được ly hôn với bà Nguyễn Thị H.

- Về con chung: Giao 02 con chung là Nguyễn Văn A, sinh ngày 01/3/2009 và Nguyễn Văn B, sinh ngày 28/9/2010 cho ông Nguyễn Văn T trực tiếp nuôi dưỡng; Giao 02 con chung là Nguyễn Thị C, sinh ngày 03/6/2013 và Nguyễn Thị D, sinh ngày 03/01/2019 cho bà Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

Ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị H có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được ngăn cản. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

- Về án phí: Ông Nguyễn Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng mà ông T đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số AA/2021/0014389 ngày 20/6/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện M, tỉnh Đắk Lắk.

- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ