vanban.org

Bản án 47/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Tuyết N.

1. Về hôn nhân: Bà Lê Thị Tuyết N ly hôn ông Nguyễn Ánh D. 2. Về con: Giao cháu Nguyễn Vũ Trường S cho bà Lê Thị Tuyết N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu Nguyễn Vũ Trường S thành niên, đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị Tuyết N - Nguyễn Ánh D"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Tuyết N.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ P
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2023/HNGĐ-ST
Ngày 16-6-2023
V/v ly hôn và tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Cao Thị Thanh Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Doãn Thị Lệ và ông Nguyễn Bá Lý.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Quang Ân - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Ái Quyên - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 6 năm 2023 tại Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 95/2023/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 02 năm 2023 về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị Tuyết N, sinh năm 1984; địa chỉ: 101/2 đường T, phường I, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Bà N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Ánh D, sinh năm 1978; địa chỉ: 101/2 đường T, phường I, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Ông D vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Tại Đơn khởi kiện ngày 02-02-2023 và Đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nguyên đơn là bà Lê Thị Tuyết N trình bày:

Bà và ông Nguyễn Ánh D tự nguyện tìm hiểu, chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường I, thành phố P, tỉnh Gia Lai ngày 07-7-2004.

Trong quá trình chung sống, bà và ông Nguyễn Ánh D thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, quan điểm sống bất đồng, cãi vã, cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc và không đạt được mục đích hôn nhân; không ai quan tâm đến ai và bỏ mặc nhau. Vì vậy, bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Ánh D.

Bà và ông Nguyễn Ánh D có hai con chung là cháu Nguyễn Lê Bảo N1, sinh ngày 28-11-2004 và cháu Nguyễn Vũ Trường S, sinh ngày 13-8-2006. Cháu Nguyễn Lê Bảo N1 đã thành niên và có khả năng tự lập nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết; ly hôn, bà có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Vũ Trường S và không yêu cầu ông Nguyễn Ánh D phải cấp dưỡng cho con.

Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và thanh toán nghĩa vụ chung.

2. Toà án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục để triệu tập hợp lệ đối với bị đơn là ông Nguyễn Ánh D. Tuy nhiên, ông Nguyễn Ánh D không đến Toà án để tham gia tố tụng. Do vậy, ông Nguyễn Ánh D không có lời khai tại hồ sơ vụ án và cũng không có lời khai tại phiên toà.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và đề nghị Hội đồng xét xử:

Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị Tuyết N.

Bà Lê Thị Tuyết N ly hôn ông Nguyễn Ánh D.

Giao cháu Nguyễn Vũ Trường S cho bà Lê Thị Tuyết N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

Bà Lê Thị Tuyết N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Về quyền khởi kiện: Bà Lê Thị Tuyết N làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Ánh D và tranh chấp về nuôi con. Về nội dung và hình thức đơn khởi kiện của bà Lê Thị Tuyết N đúng quy định tại Điều 189 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được Tòa án thụ lý.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Ông Nguyễn Ánh D cư trú tại thành phố P nên Tòa án nhân dân thành phố P có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thủ tục lựa chọn hòa giải và lựa chọn Hòa giải viên: Theo Biên bản ghi nhận ý kiến của người khởi kiện về việc lựa chọn hòa giải, lựa chọn Hòa giải viên ngày 20-02-2023, bà Lê Thị Tuyết N không đồng ý lựa chọn hòa giải và lựa chọn Hòa giải viên. Vì vậy, Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai thụ lý, giải quyết vụ án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn là ông Nguyễn Ánh D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để ông Nguyễn Ánh D tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt nên theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Bà Lê Thị Tuyết N và ông Nguyễn Ánh D đăng ký kết hôn ngày 07-7-2004 tại Ủy ban nhân dân phường I, thành phố P trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Trong quá trình chung sống, bà Lê Thị Tuyết N và ông Nguyễn Ánh D phát sinh nhiều mâu thuẫn, ông bà không yêu thương, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, người nào chỉ biết bổn phận người đó. Mặc dù, đã được hai bên gia đình nhắc nhở, hòa giải nhiều lần nhưng ông bà vẫn tiếp tục sống ly thân và bỏ mặc nhau.

Chính vì vậy, đã có đủ cơ sở để nhận định rằng, tình trạng hôn nhân của họ đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, quan hệ vợ chồng đã thực sự không thể hàn gắn được nữa, mục đích của hôn nhân là xây dựng một gia đình hoà thuận, hạnh phúc không đạt được nên yêu cầu của bà Lê Thị Tuyết N về việc ly hôn ông Nguyễn Ánh D là có căn cứ, được chấp nhận.

Về con: Bà Lê Thị Tuyết N và ông Nguyễn Ánh D có hai con chung là cháu Nguyễn Lê Bảo N1, sinh ngày 28-11-2004 và cháu Nguyễn Vũ Trường S, sinh ngày 13-8-2006.

Cháu Nguyễn Lê Bảo N1 đã thành niên và có khả năng tự lập nên bà Lê Thị Tuyết N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bà Lê Thị Tuyết N có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Vũ Trường S; tại đơn trình bày ngày 08-5-2023, cháu Nguyễn Vũ Trường S có nguyện vọng được ở với bà Lê Thị Tuyết N sau khi cha mẹ ly hôn; nguyện vọng của bà Lê Thị Tuyết N và cháu Nguyễn Vũ Trường S là chính đáng và đúng pháp luật. Bà Lê Thị Tuyết N có đủ khả năng, điều kiện để nuôi dưỡng con, đảm bảo được cuộc sống và sự phát triển bình thường về mọi mặt cho con. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu Nguyễn Vũ Trường S cho bà Lê Thị Tuyết N được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con: Bà Lê Thị Tuyết N không yêu cầu ông Nguyễn Ánh D cấp dưỡng cho con nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Bà Lê Thị Tuyết N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Về án phí: Bà Lê Thị Tuyết N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu ly hôn.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 và 85 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Tuyết N.

1.1. Về hôn nhân: Bà Lê Thị Tuyết N ly hôn ông Nguyễn Ánh D.

1.2. Về con: Giao cháu Nguyễn Vũ Trường S cho bà Lê Thị Tuyết N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu Nguyễn Vũ Trường S thành niên, đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng cho con.

2. Về án phí:

Bà Lê Thị Tuyết N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu ly hôn nhưng được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003126 ngày 23-02-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P, tỉnh Gia Lai; bà Lê Thị Tuyết N đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo:

Bà Lê Thị Tuyết N và ông Nguyễn Ánh D có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án sơ thẩm được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết công khai.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ