vanban.org

Bản án 47/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị S.

Về hôn nhân: Nguyên đơn Nguyễn Thị S được ly hôn với bị đơn Nguyễn Tấn Th. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Hiếu K, sinh ngày 14/5/2013 cho bà Nguyễn Thị S trực tiếp nuôi dưỡng; Ông Nguyễn Tấn Th không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị S.
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂY HÒA
TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

________________________
Bản án số: 47/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 15/8/2023
V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thúy

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Liên và ông Lương Tấn Nghị

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Nhật Trường – Thư ký TAND huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.

Đại diện VKSND huyện Tây Hòa tham gia phiên tòa: Ông Dương Đức Hái – Kiểm sát Vên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 137/2023/TLST- HNGĐ ngày 22 tháng 6 năm 2023, về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2023/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 38/2023/QĐST-HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Nguyễn Thị S, sinh năm 1984; Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn: Nguyễn Tấn Th, sinh năm 1977; Vắng mặt.

Đồng địa chỉ: Thôn M, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên.

Người làm chứng: Trần Thị L, sinh năm 1952; Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Nguyễn Thị S trình bày: Bà Nguyễn Thị S và ông Nguyễn Tấn Th tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H vào ngày 05/11/2002. Sau thời gian chung sống hạnh phúc, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, hai vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Ông Th không chăm lo vợ con, thường xuyên tụ tập bạn bè ăn nhậu. Mặc dù hai bên gia đình cố gắng khuyên ngăn nhiều lần nhưng ông Th không thay đổi, cuộc sống hôn nhân hai vợ chồng không hạnh phúc.

Mâu thuẫn kéo dài từ năm 2018 cho đến nay, mặc dù hai vợ chồng sống chung nhà nhưng mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm ai. Nay bà S nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không tồn tại nên bà S yêu cầu được ly hôn với ông Th.

Về con chung: Có 03 con chung tên Nguyễn Hiếu Đ, sinh ngày 15/4/2002; Nguyễn Thị Mỹ D, sinh ngày 20/6/2005 và Nguyễn Hiếu K, sinh ngày 14/5/2013. Khi ly hôn, hai con Nguyễn Hiếu Đ và Nguyễn Thị Mỹ D đã trưởng thành nên không yêu cầu gì. Đối với con Nguyễn Hiếu Kiên, bà S yêu cầu được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu ông Th cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản: Bà S không yêu cầu Tòa giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Nguyễn Tấn Th trình bày thống nhất ly hôn với bà S. Vợ chồng có 03 con chung tên Nguyễn Hiếu Đ, sinh ngày 15/4/2002; Nguyễn Thị Mỹ D, sinh ngày 20/6/2005 và Nguyễn Hiếu K, sinh ngày 14/5/2013. Khi ly hôn, hai con Nguyễn Hiếu Đ và Nguyễn Thị Mỹ D đã trưởng thành nên không yêu cầu gì. Đối với con Nguyễn Hiếu Kiên, thống nhất giao cho bà S trực tiếp nuôi dưỡng và không yêu cầu giải quyết tài sản nhưng ông Th không đến Tòa án nên không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa:

Đại diện Vện kiểm sát nhân dân huyện Tây Hòa phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn đã tuân thủ và thực hiện đúng theo quy định pháp luật tố tụng. Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử vụ án.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, Điều 55, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn, vì mâu thuẫn đã trầm trọng và kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Về con chung: Giao con chung tên là Nguyễn Hiếu K, sinh ngày 14/5/2013 cho bà S trực tiếp nuôi dưỡng, bà S không yêu cầu cấp dưỡng nên đề nghị HĐXX không xét; Đối với con chung tên Nguyễn Hiếu Đ, sinh ngày 15/4/2002; Nguyễn Thị Mỹ D, sinh ngày 20/6/2005 đã trưởng thành các đương sự không có yêu cầu gì nên đề nghị HĐXX không xét. Về tài sản: Các đương sự không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét. Nguyên đơn bà S phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Các đương sự tranh chấp về ly hôn, là tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn Nguyễn Tấn Th có nơi cư trú hiện nay tại: Thôn Mỹ Thạnh Tây, xã Hòa Phong, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.

[1.2] Nguyên đơn, người làm chứng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, bị đơn Nguyễn Tấn Th được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do nên HĐXX xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Xét yêu cầu của đương sự:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn Nguyễn Thị S và bị đơn Nguyễn Tấn Th tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hòa Phong vào ngày 05/11/2002 là hôn nhân hợp pháp. Bà S khai trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau. Mâu thuẫn xảy ra từ năm 2018 cho đến nay, mặc dù hai vợ chồng sống chung nhà nhưng mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm ai.

Ý kiến bà Trần Thị Lan là mẹ ruột của bà S cho biết hôn nhân giữa bà S và ông Th không hạnh phúc, xảy ra nhiều mẫu thuẫn, mâu thuẫn kéo dài từ năm 2018 cho đến nay, không ai quan tâm ai, mạnh ai nấy sống đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Ông Nguyễn Tấn Th cũng có ý kiến thống nhất ly hôn với bà S.

Như vậy, đủ cơ sở xác định, mâu thuẫn giữa bà S và ông Th đã trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị S như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ.

[2.2] Về con chung: Xét thấy con chung tên Nguyễn Hiếu K, sinh ngày 14/5/2013, bà S và ông Th thống nhất giao cho bà S trực tiếp nuôi dưỡng, hơn nữa cháu K có nguyện vọng được sống cùng bà S; Do đó, để cháu Kiên phát triển tốt về thể chất lẫn tinh thần, cần giao cháu Kiên cho cho bà S trực tiếp nuôi dưỡng, bà S không yêu cầu ông Th cấp dưỡng nên HĐXX không xét. Đối với con chung Nguyễn Hiếu Đ, sinh ngày 15/4/2002 và Nguyễn Thị Mỹ D, sinh ngày 20/6/2005 đã trưởng thành các bên đương sự không có yêu cầu gì nên HĐXX không xét.

[2.3] Về tài sản: Các đương sự không yêu cầu nên không xét.

[3] Về án phí: Nguyên đơn Nguyễn Thị S phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị S.

1. Về hôn nhân: Nguyên đơn Nguyễn Thị S được ly hôn với bị đơn Nguyễn Tấn Th.

2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Hiếu K, sinh ngày 14/5/2013 cho bà Nguyễn Thị S trực tiếp nuôi dưỡng; Ông Nguyễn Tấn Th không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở. Đối với con chung Nguyễn Hiếu Đ, sinh ngày 15/4/2002 và Nguyễn Thị Mỹ D, sinh ngày 20/6/2005 đã trưởng thành các bên đương sự không có yêu cầu giải quyết nên không xét.

3. Về án phí: Nguyên đơn Nguyễn Thị S phải chịu 300.000đ tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm về yêu cầu xin ly hôn, được khấu trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0006133 ngày 20/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.

4. Về kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ