vanban.org

Bản án 47/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H đối với anh Nguyễn Đ.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn đối với anh Nguyễn Đ. Về con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận của các bên đương sự về việc giao con chung Nguyễn Gia Bảo sinh ngày 19/8/2019 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi cháu Bảo thành niên (đủ 18 tu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H đối với anh Nguyễn Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Q
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 19/4/2023
V/v: tranh chấp ly hôn, nuôi
con chung.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Q – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị Thúy Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Hoa. 2. Ông Tạ Văn Thắng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền Lê – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Q tham gia phiên toà: Bà Vi Thị Ngọc Kim - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Q, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 31/2023/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2023 về tranh chấp xin ly hôn, nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1988. Địa chỉ nơi thường trú và nơi ở: Phòng 601A, Khu đô thị Sunny Garden City, xã S, huyện Q, Thành phố Hà Nội. Có mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Đ, sinh năm 1987. Địa chỉ nơi thường trú: Thôn Lan Dương, xã An Lão, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Địa chỉ nơi tạm trú: Phòng 601A, Khu đô thị Sunny Garden City, xã S, huyện Q, Thành phố Hà Nội. Xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các biên bản làm việc, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị H trình bày như sau:

Chị và anh Nguyễn Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, đăng ký kết hôn ngày 10 tháng 12 năm 2018 tại Ủy ban nhân dân xã Hưng Trạch, huyện Bố Trạch, Tỉnh Quảng Bình.

Quá trình chung sống, anh chị thường xuyên xảy ra tranh cãi, lớn tiếng với nhau. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn giữa hai vợ chồng là do suy nghĩ, tính cách của hai người quá khác biệt, không tìm được tiếng nói chung kể cả từ những việc nhỏ trong sinh hoạt hàng ngày. Một phần mâu thuẫn cũng bắt nguồn từ kinh tế của hai vợ chồng còn eo hẹp, anh Nam cũng không chia sẻ hay hỗ trợ cùng chị. Khi có bất đồng thì anh Nam lại dùng vũ lực đối với chị. Đỉnh điểm của mẫu thuẫn là việc anh Nam đã dùng vũ lực đánh chị vào tháng 02/2023. Sau sự việc đó, chị đã đưa con đến công ty ở nhờ 1 thời gian. Nay chị xác định không thể tiếp tục hôn nhân với anh Nam được nữa do bị ám ảnh bởi hành vi bạo lực của anh Nam nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn.

Về con chung: Chị xác nhận vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Gia Bảo sinh ngày 19/8/2019. Chị và cháu Bảo đang sinh sống tại Phòng 601A, Khu đô thị Sunny Garden City, xã S, huyện Q, Thành phố Hà Nội. Đây là nhà riêng đứng tên một mình chị. Hiện nay chị đang làm tại Công ty cổ phần phát triển dịch vụ C.E.O với mức lương thực lĩnh là 15.420.080đ/tháng. Chị có đủ điều kiện để nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con. Do vậy, chị đề nghị Tòa án xem xét cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Bảo và không yêu cầu anh Nam phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản, nhà đất chung và công nợ chung: chị xác định giữa chị và anh Nam không có tài sản chung và công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai và các biên bản làm việc khác tại Tòa án, bị đơn là anh Nguyễn Đ trình bày:

Anh và chị Nguyễn Thị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hưng Trạch, huyện Bố Trạch, Tỉnh Quảng Bình ngày 10/12/2018.

Anh xác nhận quá trình chung sống, anh chị có xảy ra mâu thuẫn do bất đồng về cách sống, suy nghĩ và mong muốn của hai người khi đến với nhau không được như ý. Mâu thuẫn còn xuất phát từ kinh tế của hai vợ chồng. Hôn nhân của anh chị không có sự yêu thương và tôn trọng lẫn nhau. Chị H thường hay có lời nói động chạm đến lòng tự trọng của anh, thiếu tôn trọng chồng vì anh không có công việc mang lại thu nhập cao. Khi vợ chồng xảy ra bất đồng, do mất kiểm soát nên anh đã đánh, tát chị H đôi ba lần. Anh biết đánh vợ là sai và mong muốn vợ chồng được đoàn tụ để cùng nuôi dạy con khôn lớn. Anh không đồng ý với yêu cầu xin ly hôn của chị H.

Về con chung: Anh xác nhận vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Gia Bảo sinh ngày 19/8/2019. Nếu trường hợp phải ly hôn anh đồng ý để chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung và anh có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con 2.000.000đ/tháng kể từ tháng 5/2023.

Về tài sản, nhà đất chung và công nợ chung: Anh xác định vợ chồng không có tài sản chung, không có công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa:

- Chị H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin được ly hôn với anh Nam và đề nghị được nuôi con chung là cháu Nguyễn Gia Bảo. Chị đồng ý mức cấp dưỡng nuôi con 2.000.000đ/tháng mà anh Nam nêu. Về tài sản chung và công nợ chung không có nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Anh Nam đã có đơn xin được vắng mặt tại phiên tòa. Anh nhận thấy bản thân đã sai, tự nhận lỗi và kiểm điểm bản thân, mong Tòa án giúp cho vợ chồng anh được đoàn tụ.

- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, của nguyên đơn và bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã theo đúng quy định của pháp luật.

+ Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 228; khoản 4 Điều 147; Điều 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51; Điều 55; Điều 58; Điều 81; Điều 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Đề nghị: Chấp nhận đơn khởi kiện về việc xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H. Giao con chung Nguyễn Gia Bảo sinh ngày 19/8/2019 cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi cháu Bảo thành niên (đủ 18 tuổi) hoặc khi có quyết định thay đổi khác. Ghi nhận việc anh Nam cấp dưỡng nuôi con 2.000.000đ/tháng cho đến khi cháu Bảo thành niên (đủ 18 tuổi) hoặc khi có quyết định thay đổi khác. Anh Nam có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Về tài sản, nhà đất chung và công nợ chung: hai bên đương sự xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thủ tục tố tụng:

- Về quan hệ tranh chấp: Chị Nguyễn Thị H có đơn xin ly hôn với anh Nguyễn Đ. Hội đồng xét xử xét thấy đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Anh Nguyễn Đ có đăng kí tạm trú tại Phòng 601A, Khu đô thị Sunny Garden City, xã S, huyện Q, Thành phố Hà Nội. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Q thụ lý giải quyết yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H là đúng quy định của pháp luật.

- Bị đơn là anh Nguyễn Đ có đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Q giải quyết vắng mặt. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Q vẫn tiến hành xét xử vụ án là đúng quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, có đăng ký kết hôn ngày 10 tháng 12 năm 2018 tại Ủy ban nhân dân xã Hưng Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Xác định đây là hôn nhân hợp pháp.

Chị H và anh Nam đều xác nhận quá trình chung sống vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do lối sống, tư duy và suy nghĩ của hai vợ chồng quá khác biệt, không thể tìm được tiếng nói chung. Khi xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng có những lời nói xúc phạm nhau và anh Nam đã đánh chị H. Đỉnh điểm của mâu thuẫn là việc anh chị xô xát vào ngày 28/02/2023 khiến vợ chồng sống ly thân (chị H có cung cấp video trích xuất từ camera trong nhà anh chị). Mặc dù anh Nam có nguyện vọng đoàn tụ nhưng bản thân anh cũng xác định hôn nhân của anh và chị H không có sự yêu thương, không có trách nhiệm và tôn trọng nhau. Như vậy, có thể thấy trên thực tế quan hệ vợ chồng của anh chị đã căng thẳng, mục đích hôn nhân không đạt được nên ly hôn là cần thiết, đồng thời để tránh ảnh hưởng xấu đến các thành viên khác trong gia đình. Quá trình làm việc tại Tòa án anh Nam khai anh đã thông báo cho hai bên gia đình biết việc anh chị chấm dứt quan hệ hôn nhân. Do đó, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H.

- Về con chung: Chị H và anh Nam đều xác nhận vợ chồng chỉ có 01 con chung là cháu Nguyễn Gia Bảo sinh ngày 19/8/2019. Trường hợp phải ly hôn, anh chị cùng thống nhất giao cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục cháu Bảo và anh Nam có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con 2.000.000đ/tháng, kể từ tháng 5/2023. Sự thỏa thuận của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Anh Nam có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.

- Về tài sản, nhà đất chung và công nợ chung: Chị H và anh Nam đều xác định vợ chồng không có tài sản, nhà đất chung, không có công nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí: Chị H phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, anh Nam phải chịu 150.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 271 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ vào Điều 51; Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ vào khoản 5 và khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H đối với anh Nguyễn Đ.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn đối với anh Nguyễn Đ.

2. Về con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận của các bên đương sự về việc giao con chung Nguyễn Gia Bảo sinh ngày 19/8/2019 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi cháu Bảo thành niên (đủ 18 tuổi) hoặc khi có quyết định thay đổi khác.

Ghi nhận việc anh Nguyễn Đ cấp dưỡng nuôi con 2.000.000đ (Hai triệu đồng)/tháng kể từ tháng 5/2023 cho đến khi cháu Bảo thành niên (đủ 18 tuổi) hoặc khi có quyết định thay đổi khác.

Anh Nam có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.

3. Về tài sản, nhà đất chung và công nợ chung: không có nên không xem xét.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000543 ngày 14/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Q, thành phố Hà Nội.

Anh Nam phải chịu 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con.

5. Về quyền kháng cáo: Chị H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nam có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND huyện Q;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

- Chi cục THADS huyện Q;

- Các đương sự;

- UBND xã Hưng Trạch, H. Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình (nơi đăng kí kết hôn);

- Lưu:hồ sơ vụ án; VPTA;

Đào Thị Thúy

Hướng dẫn sử dụng mẫu số 52-DS:

Mẫu bản án sơ thẩm kèm theo bản hướng dẫn này được soạn thảo theo tinh thần quy định tại Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự. Mẫu bản án sơ thẩm kèm theo hướng dẫn này được sử dụng cho tất cả các Toà án khi xét xử sơ thẩm các tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động.

Sau đây là những hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng mẫu bản án sơ thẩm kèm theo:

(1) Nếu là Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì ghi rõ tên Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào (ví dụ: Toà án nhân dân huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội); nếu là Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì ghi Toà án nhân dân tỉnh (thành phố) đó (ví dụ: Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam).

(2) Ô thứ nhất ghi số bản án, ô thứ hai ghi năm ra bản án, ô thứ ba ghi ký hiệu loại bản án (ví dụ: Nếu là bản án giải quyết tranh chấp về dân sự năm 2017 có số 100 thì ghi: “Số:100/2017/DS-ST”; nếu là bản án giải quyết tranh chấp về hôn nhân và gia đình năm 2017 có số 108 thì ghi: “Số:108/2017/HNGĐ-ST”; nếu là bản án giải quyết tranh chấp về kinh doanh, thương mại năm 2017 có số 110 thì ghi: “Số:110/2017/KDTM-ST”; nếu là bản án giải quyết tranh chấp về lao động năm 2017 có số 115 thì ghi: “Số:115/2017/LĐ-ST”).

(3) Ghi ngày, tháng, năm tuyên án không phân biệt vụ án được xét xử sơ thẩm và kết thúc trong một ngày hay được xét xử sơ thẩm trong nhiều ngày.

(4) Ghi quan hệ tranh chấp mà Tòa án giải quyết: Cần xác định tranh chấp mà Tòa án thụ lý giải quyết được quy định tại Điều, khoản nào của Bộ luật tố tụng dân sự, để ghi vào phần trích yếu của bản án (ví dụ: Tranh chấp mà Tòa án thụ lý giải quyết là tranh chấp về quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân được quy định tại khoản 1 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự thì ghi: “tranh chấp về quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân”).

(5) Ghi như hướng dẫn tại điểm (1).

(6) Nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm ba người, thì chỉ ghi họ tên của Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà, bỏ dòng “Thẩm phán...”, đối với Hội thẩm nhân dân chỉ ghi họ tên của hai Hội thẩm nhân dân; nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có năm người, thì ghi họ tên của Thẩm phán

- Chủ tọa phiên toà, họ tên của Thẩm phán, họ tên của cả ba Hội thẩm nhân dân. Cần chú ý là không ghi chức vụ của Thẩm phán; chức vụ, nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân.

(7) Ghi họ tên của Thư ký phiên tòa và ghi rõ là Thư ký Tòa án hoặc Thẩm tra viên của Tòa án nào như hướng dẫn tại điểm (1).

(8) Nếu có Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên toà thì ghi như hướng dẫn tại điểm (1) song đổi các chữ “Toà án nhân dân” thành “Viện kiểm sát nhân dân”.

(9) Trường hợp vụ án được xét xử và kết thúc trong một ngày thì bỏ hai chữ “Trong các” (ví dụ: Ngày 15 tháng 7 năm 2017). Trường hợp vụ án được xét xử trong hai ngày thì ghi “Trong các ngày” (ví dụ: Trong các ngày 02, 03 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà liền nhau thì ghi: “Từ ngày đến ngày” (ví dụ: Từ ngày 06 đến ngày 10 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà không liền nhau thì ghi trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 07, 08 và ngày 15 tháng 3 năm 2017); nếu khác tháng mà liền nhau thì ghi từ ngày... tháng... đến ngày... tháng... (ví dụ: Từ ngày 31 tháng 05 đến ngày 02 tháng 6 năm 2017); nếu không liền nhau thì ghi các ngày của từng tháng (Ví dụ: Trong các ngày 30, 31 tháng 3 và các ngày 04, 05 tháng 4 năm 2017).

(10) Nếu xét xử kín thì thay cụm từ “công khai” bằng từ “kín”.

(11) Ô thứ nhất ghi số thụ lý, ô thứ hai ghi năm thụ lý và ô thứ ba nếu là tranh chấp về dân sự thì ghi “DS”; nếu là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thì ghi “HNGĐ”; nếu là tranh chấp về kinh doanh, thương mại thì ghi “KDTM”; nếu là tranh chấp về lao động thì ghi “LĐ” (ví dụ: số 18/2017/TLST-HNGĐ).

(12) Ghi như hướng dẫn tại điểm (4).

(13) Nguyên đơn là cá nhân thì ghi họ tên, địa chỉ cư trú (nếu là người chưa thành niên thì sau họ tên ghi ngày, tháng, năm sinh và họ tên người đại diện hợp pháp của người chưa thành niên). Nguyên đơn là cơ quan, tổ chức thì ghi tên cơ quan, tổ chức và địa chỉ của cơ quan, tổ chức đó.

(14) Chỉ ghi khi có người đại diện hợp pháp của nguyên đơn và ghi họ tên, địa chỉ cư trú; ghi rõ là người đại diện theo pháp luật hay là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn; nếu là người đại diện theo pháp luật thì cần ghi chú trong ngoặc đơn quan hệ giữa người đó với nguyên đơn; nếu là người đại diện theo uỷ quyền thì cần ghi chú trong ngoặc đơn: “văn bản uỷ quyền ngày... tháng... năm...”.

Ví dụ 1: Ông Nguyễn Văn A trú tại... là người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn (Giám đốc Công ty TNHH Thắng Lợi).

Ví dụ 2: Bà Lê Thị B trú tại... là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn (Văn bản uỷ quyền ngày... tháng... năm...).

(15) Chỉ ghi khi có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Ghi họ tên, địa chỉ cư trú (nếu là Luật sư thì ghi là Luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào); nếu có nhiều nguyên đơn thì ghi cụ thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn nào.

(16) và (19) Ghi tương tự như hướng dẫn tại điểm (13).

(17) và (20) Ghi tương tự như hướng dẫn tại điểm (14).

(18) và (21) Ghi tương tự như hướng dẫn tại điểm (15).

(22) Ghi họ tên, địa chỉ cư trú (nếu là người chưa thành niên thì sau họ tên ghi ngày, tháng, năm sinh và họ tên người đại diện hợp pháp của người chưa thành niên).

(23) Ghi họ tên, chức danh, địa chỉ nơi làm việc (nếu không có nơi làm việc thì ghi địa chỉ cư trú).

(24) Ghi họ tên, địa chỉ nơi làm việc (nếu không có nơi làm việc thì ghi địa chỉ cư trú).

(25) Trong phần này ghi rõ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, của cơ quan, tổ chức, cá nhân; yêu cầu phản tố, đề nghị của bị đơn; yêu cầu độc lập, đề nghị của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; ý kiến của Viện kiểm sát; ghi ngắn gọn, đầy đủ các tài liệu, chứng cứ, tình tiết của vụ án; ghi rõ các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh, các tình tiết mà các bên đã thống nhất, không thống nhất; đối với các tình tiết của vụ án mà các bên không thống nhất thì phải ghi rõ lý lẽ, lập luận của từng bên đương sự.

(26) Ghi nhận định của Tòa án về những vấn đề cần phải giải quyết trong vụ án (về áp dụng pháp luật tố tụng và pháp luật nội dung). Tòa án phải căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa để phân tích, đánh giá, nhận định đầy đủ, khách quan về chứng cứ và những tình tiết của vụ án; phân tích, viện dẫn những căn cứ pháp luật, án lệ (nếu có) để chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu, đề nghị của đương sự; yêu cầu, đề nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác (nếu có); yêu cầu, đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát (nếu có); giải quyết các vấn đề khác có liên quan. Nếu vụ án thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 4 của Bộ luật tố tụng dân sự thì tùy từng trường hợp mà Tòa án phân tích, lập luận về việc áp dụng tập quán, tương tự pháp luật, nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ hoặc lẽ công bằng.

Trong phần này, các đoạn văn được đánh số thứ tự trong dấu [ ].

(27) Tùy từng trường hợp mà ghi rõ các căn cứ pháp luật để ra quyết định.

(28) Ghi các quyết định của Tòa án về từng vấn đề phải giải quyết trong vụ án, về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo đối với bản án; trường hợp có quyết định phải thi hành ngay thì phải ghi rõ quyết định đó. Đối với trường hợp xét xử sơ thẩm lại vụ án mà bản án, quyết định đã bị hủy một phần hoặc toàn bộ theo quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm thì ghi vấn đề tài sản, nghĩa vụ đã được thi hành (nếu có) theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật nhưng bị hủy; trường hợp có quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 482 của Bộ luật tố tụng dân sự thì phải ghi rõ nội dung về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án.

(29) Phần cuối cùng của bản án, đối với bản án được thông qua tại phòng nghị án thì phải có đầy đủ chữ ký, ghi rõ họ tên của các thành viên Hội đồng xét xử và đóng dấu (bản án này phải lưu vào hồ sơ vụ án); đối với bản án để gửi cho các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện và Viện kiểm sát thì ghi như sau:

Cỡ chữ