vanban.org

Bản án 47/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: xử cho chị Vũ Thị H được ly hôn anh Tô Văn Q.

Về quan hệ con chung: xử giao cho chị Vũ Thị H trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Tô Thị Trà M, sinh ngày 27/8/2012; giao cho anh Tô Văn Q trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Tô Văn V, sinh ngày 11/8/2008. Chị H và anh Q không phải góp cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau và đều có quyền, nghĩa vụ thăm no… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa chị H và anh Q"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: xử cho chị Vũ Thị H được ly hôn anh Tô Văn Q.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HƯNG HÀ
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2023/HNGĐ- ST
Ngày: 22- 6- 2023
V/v ly hôn, tranh chấp về
nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Hùng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Ngọc Hoàng

2. Bà Cao Thị Lan

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Trường- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Lân- Kiểm sát viên

Ngày 22 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 136/2023/TLST- HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2023 về việc: ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2023/QĐXX-ST ngày 08 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: chị Vũ Thị H, sinh năm 1990 Địa chỉ: Thôn Th, xã V, huyện H, tỉnh Thái Bình.

2. Bị đơn: anh Tô Văn Q, sinh năm 1986 Địa chỉ: Thôn M, xã V, huyện H, tỉnh Thái Bình

(Tại phiên tòa có mặt chị H. Anh Q xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Vũ Thị H trình bày:

Chị kết hôn tự nguyện với anh Tô Văn Q và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Văn Lang, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình vào ngày 09/8/2012. Chị và anh Q đăng ký kết hôn lại vì trước đó đã giải quyết ly hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng tính tình không hợp, quan điểm sống bất đồng và thường xuyên xảy ra cãi nhau. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2018 đến nay không quan tâm đến nhau nhau. Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn và xin ly hôn anh Q. Chị và anh Q có 02 con chung là: Tô Văn V, sinh ngày 11/8/2008 và Tô Thị Trà M, sinh ngày 27/8/2012. Sau khi ly hôn, chị xin trực tiếp nuôi dưỡng con M, còn anh Q nuôi con V. Chị và anh Q không phải góp cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết về quan hệ tài sản.

Bị đơn là anh Tô Văn Q trong bản tự khai đã xác nhận về thời gian, điều kiện, hoàn cảnh kết hôn đúng như chị H trình bày. Sau khi kết hôn lại vào năm 2012, vợ chồng chung sống hòa thuận đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp và vợ chồng đã ly thân từ đó đến nay. Anh nhất trí ly hôn với chị H. Anh và chị H có 02 con chung như chị H đã khai. Anh đã thỏa thuận với chị H sau khi ly hôn, anh trực tiếp nuôi dưỡng con Tô Văn V, còn chị H nuôi con Tô Thị Trà M. Anh và chị H không phải góp cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản.

Tại biên bản lấy lời khai của Tòa án ngày 02/6/2023 thể hiện nguyện vọng của cháu Tô Thị Trà M muốn được ở với chị Hằng, còn nguyện vọng của cháu Tô Văn V muốn ở với anh Q.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến tại phiên toà: Quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đều tuân thủ đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; về quan hệ hôn nhân cần xử cho chị H được ly hôn anh Q; về quan hệ con chung: cần xử giao cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Tô Thị Trà M, giao cho anh Q trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Tô Văn V. Chị H và anh Q không phải góp cấp dưỡng nuôi chung cho nhau; về quan hệ tài sản: không đặt ra giải quyết. Chị H phải chịu án phí hôn nhân gia đình theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Bị đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung: Quan hệ hôn nhân giữa chị Vũ Thị H và anh Tô Văn Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn lại lần thứ hai, vợ chồng vợ chồng chung sống hòa thuận đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn thường xuyên cãi nhau do tính tình không hợp, quan điểm sống bất đồng. Chị H, anh Q đã ly thân từ năm 2018 cho đến nay và cả hai đều nhất trí giải quyết ly hôn. Xét mâu thuẫn giữa chị H và anh Q đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cần xử cho chị H được ly hôn anh Q là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về quan hệ con chung: Xét yêu cầu về nuôi dưỡng con chung của chị H và anh Q phù hợp với nguyện vọng của con M muốn ở với mẹ, còn con V muốn ở với bố. Vì vậy, cần giao cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng con M; giao cho anh Q trực tiếp nuôi dưỡng con V. Chị H và anh Q không phải góp cấp dưỡng nuôi chung cho nhau.

Về quan hệ tài sản: chị H và anh Q đều không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về án phí: chị H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Q hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.

1. Về quan hệ hôn nhân: xử cho chị Vũ Thị H được ly hôn anh Tô Văn Q.

2. Về quan hệ con chung: xử giao cho chị Vũ Thị H trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Tô Thị Trà M, sinh ngày 27/8/2012; giao cho anh Tô Văn Q trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Tô Văn V, sinh ngày 11/8/2008. Chị H và anh Q không phải góp cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau và đều có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: chị Vũ Thị H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Chuyển số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị H đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0004178 ngày 26/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình thành tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: chị Vũ Thị H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Tô Văn Q có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhËn tèng ®¹t hoÆc niªm yÕt hîp lÖ b¶n ¸n.

Cỡ chữ