vanban.org

Bản án 47/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Mộng K, cho ly hôn giữa chị Võ Thị Mộng K và anh Nguyễn Chí L.

Về việc nuôi con chung: 1. Anh Nguyễn Chí L được tiếp tục chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng 02 con chung là Nguyễn Chí Kh, sinh ngày 25 tháng 11 năm 2012 và Nguyễn Thị Ngọc Tr, sinh ngày 25 tháng 6 năm 2014. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa chị K và anh L"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Mộng K, cho ly hôn giữa chị Võ Thị Mộng K và anh Nguyễn Chí L.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HỒNG NGỰ
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 04-5-2023
V/v ly hôn,
tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lương Bằng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Bùi Tấn Dũng.

2. Ông Nguyễn Tuấn Lam.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Ông Trần Thái Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 41/2023/TLST-DS ngày 03 tháng 3 năm 2023, về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2023/QĐXX-ST ngày 31 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Võ Thị Mộng K, sinh ngày 09 tháng 4 năm 1996; Nơi cư trú: Ấp PLA, xã PTB, huyện HN, tỉnh Đồng Tháp.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Chí L, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1984; Nơi cư trú: Ấp PLA, xã PTB, huyện HN, tỉnh Đồng Tháp.

(Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 03 tháng 02 năm 2023 và bản khai đề ngày 24 tháng 3 năm 2023, nguyên đơn chị Võ Thị Mộng K trình bày: Vào năm 2010, chị và anh Nguyễn Chí L qua quen biết và tìm hiểu nhau, tự nguyện đi đến hôn nhân và được cha mẹ hai bên đồng ý tổ chức làm đám cưới vào năm 2012, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã PTB, huyện HN, tỉnh Đồng Tháp. Trong quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc và có 02 con chung. Được 05 năm thì vợ chồng bắt đầu xảy ra mâu thuẫn do anh L lo chơi bời cờ bạc, chị khuyên can nhưng anh L không thay đổi nên vợ chồng thường xuyên cự cải nhau, tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt. Nhưng vì con chị cố gắng chịu đựng nhường nhịn cho qua. Nhưng mâu thuẫn ngày càng trở nên trầm trọng, thời điểm căng thẳng nhất là vào tháng 5 năm 2022 vợ chồng có cự cải nhau về việc anh L lo chơi bời cờ bạc, cá độ. Do bất đồng về quan điểm sống nên chị đã bỏ đi và về nhà mẹ ruột sinh sống cho tới nay. Từ sau khi chị đi về nhà mẹ ruột chị tại xã An Long sinh sống và đi làm thì anh L có gọi điện hăm dọa đòi đánh chị, đâm chị, tạt axít. trước hành động như vậy chị không thể nào tiếp tục chung sống được nữa. Cho tới thời điểm hôm nay thì tình cảm vợ chồng cũng không còn gì nữa. Cho nên chị yêu cầu được với anh Chí L. Về con chung: Có 02 con chung là Nguyễn Chí Kh, sinh ngày 25 tháng 11 năm 2012 và Nguyễn Thị Ngọc Tr, sinh ngày 25 tháng 6 năm 2014, hiện 02 cháu đang sống chung với anh L. Nay ly hôn, chị thống nhất giao 02 con chung cho anh L tiếp tục nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với anh Nguyễn Chí L, Toà án đã triệu tập để hòa giải và xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự nhưng anh từ chối không đến Tòa án tham gia phiên hòa giải và xét xử.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 30 tháng 3 năm 2023 của cháu Nguyễn Chí Kh trình bày: Nguyện vọng con ở với ba.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 30 tháng 3 năm 2023 của cháu Nguyễn Thị Ngọc Tr trình bày: Nguyện vọng con ở với ba.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Võ Thị Mộng K được ly hôn với anh Nguyễn Chí L; về con chung: Giao 02 con chung Nguyễn Chí Kh, sinh ngày 25 tháng 11 năm 2012 và Nguyễn Thị Ngọc Tr, sinh ngày 25 tháng 6 năm 2014 cho anh Nguyễn Chí L được tiếp tục nuôi dưỡng, chị Võ Thị Mộng K không phải cấp dưỡng nuôi con do anh Chí L chưa có yêu cầu; về tài sản chung và nợ chung: Chị Võ Thị Mộng K trình bày không có, còn anh Nguyễn Chí L không có văn bản ghi ý kiến, nên Viện kiểm sát không đề cập giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Đây là vụ kiện tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Nguyên đơn chị Võ Thị Mộng K có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Chí L đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Võ Thị Mộng K và anh Nguyễn Chí L là hôn nhân hợp pháp, có đăng ký kết hôn và hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình. Xét yêu cầu ly hôn của chị Võ Thị Mộng K đối với anh Nguyễn Chí L, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo trình bày của chị Mộng K thì cuộc sống của chị và anh Chí L không hạnh phúc cách đây khoảng 05 năm nguyên nhân là do anh Chí L chơi bời cờ bạc, chị khuyên can nhưng anh Chí L không thay đổi nên vợ chồng thường xuyên cự cải nhau, tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt, chị và anh Chí L đã không sống chung với nhau từ tháng 5 năm 2022. Từ đó, có thể nhận thấy rằng mối quan hệ vợ chồng của chị Mộng K đối với anh Chí L hoàn toàn không còn, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Như vậy, xét thấy yêu cầu ly hôn của chị Mộng K là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” và cũng phù hợp với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, nên chấp nhận cho chị Mộng K ly hôn với anh Chí L.

Về việc nuôi con: Chị Võ Thị Mộng K đồng ý giao 02 con chung là Nguyễn Chí Kh, sinh ngày 25 tháng 11 năm 2012 và Nguyễn Thị Ngọc Tr, sinh ngày 25 tháng 6 năm 2014 cho anh Nguyễn Chí L được tiếp tục nuôi dưỡng, chị Võ Thị Mộng K không phải cấp dưỡng nuôi con, Hội đồng xét xử xét thấy, từ khi chị Mộng K và anh Chí L không còn sống chung và hiện nay thì 02 con chung do anh Chí L chăm sóc, nuôi dưỡng, 02 cháu cũng có nguyện vọng ở với ba và để ổn định việc sinh hoạt, học tập của 02 cháu, nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho anh Chí L được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung, chị Mộng K không phải cấp dưỡng nuôi con do anh Chí L chưa có yêu cầu, khi nào anh Chí L có yêu cầu thì có thể khởi kiện bằng một vụ án dân sự khác và cũng phù hợp với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát.

Về chia tài sản: Chị Võ Thị Mộng K cho rằng không có, nên không yêu cầu giải quyết, còn anh Nguyễn Chí L không gửi văn bản ghi ý kiến của mình để Tòa án xem xét, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc đương sự phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 53, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Mộng K, cho ly hôn giữa chị Võ Thị Mộng K và anh Nguyễn Chí L.

2. Về việc nuôi con chung:

2.1. Anh Nguyễn Chí L được tiếp tục chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng 02 con chung là Nguyễn Chí Kh, sinh ngày 25 tháng 11 năm 2012 và Nguyễn Thị Ngọc Tr, sinh ngày 25 tháng 6 năm 2014.

2.2. Chị Võ Thị Mộng K không phải cấp dưỡng nuôi con.

2.3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về án phí sơ thẩm: Chị Võ Thị Mộng K chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0004285 ngày 03 tháng 3 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Ngự.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ