vanban.org

Bản án 47/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị H.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị H được ly hôn với anh Phạm Ngọc V. Về con chung: Giao con chung là cháu Phạm Lê Phương, sinh ngày 28/6/2012 cho chị Lê Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi hai cháu đến tuổi trưởng thành, đủ 18 tuổi. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN EA H’LEO
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 16/6/2023.
V/v: Kiện ly hôn, tranh chấp
nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H’LEO

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Quốc Hà

Các Hội thẩm nhân dân gồm có: Ông Lê Ngọc Tuân

Ông Ksơr Aflai

- Thư ký phiên toà: Ông Phan Việt Tiệp – Thư ký Toà án nhân dân huyện Ea H’Leo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Khánh – Kiểm sát viên.

Ngày 16/6/2023, tại phòng xử án - Toà án nhân dân huyện Ea H’leo, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 502/2022/TLST-HNGĐ ngày 21/12/2022 về việc “Tranh chấp ly hôn”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 30/2023/QĐST-HNGĐ ngày 31/5/2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị H. Địa chỉ: Thôn 3, xã ES, huyện EH, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Phạm Ngọc V. Địa chỉ: Thôn 3, xã ES, huyện EH, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt không có lý do đến lần thứ hai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lê Thị H trình bày: Tôi và anh Phạm Ngọc V tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn vào ngày 20/4/2009 tại UBND xã ES, huyện Ea H’leo. Sau thời gian chung sống hạnh phúc thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, anh V có quan hệ trai gái, con riêng ở bên ngoài. Tôi đã nhiều lần khuyên ngăn nhưng anh V không chịu thay đổi, vợ chồng thường xuyên cải nhau, nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Vì vậy tôi làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh V.

Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng tôi có một người con chung là cháu Phạm Lê P, sinh ngày 28/6/2012, cháu đang ở với tôi, nguyện vọng của tôi là tiếp tục được chăm sóc, nuôi dưỡng cháu đến tuổi trưởng thành. Tôi không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Chúng tôi tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa giải quyết.

* Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Phạm Ngọc V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt.

* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’leo:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Về người tham gia tố tụng: Tòa án đã xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng.

Việc thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự, việc cấp tống đạt các giấy tờ cho Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử chấp hành đầy đủ và đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình – Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị H; Về quan hệ hôn nhân: Lê Thị H được ly hôn với anh Phạm Ngọc V; Về con chung: Cần giao cháu cháu Phạm Lê P, sinh ngày 28/6/2012 cho chị Lê Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu P đến tuổi trưởng thành, đủ 18 tuổi; Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Lê Thị H không yêu cầu anh anh Phạm Ngọc V cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản chung và nợ chung: Chị Lê Thị H không yêu cầu giải quyết nên không đề cập xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy:

Về thủ tục tố tụng: Xét yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị H đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh Phạm Ngọc V là tranh chấp về Hôn nhân và gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ea H’Leo theo quy định tại Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét thấy, bị đơn anh Phạm Ngọc V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt lần thứ hai, không có lý do. Nguyên đơn chị Lê Thị H có đơn xin giải quyết vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị H và anh Phạm Ngọc V chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào ngày 20/4/2009 tại UBND xã ES, huyện EH, tỉnh Đắk Lắk. Đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật.

Qua lời trình bày của chị H thì nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, anh V có quan hệ bên ngoài và có con riêng, chị H đã nhiều lần khuyên ngăn nhưng anh V không chịu thay đổi, nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh V; Qua xác minh tại chính quyền địa phương nơi chị H và anh V sinh sống thì vợ chồng anh V, chị H có phát sinh mâu thuẫn, tuy nhiên không yêu cầu địa phương hòa giải. Từ năm 2020 đến nay anh V thường xuyên đi làm xa, ít quan tâm đến vợ con, gia đình. Nay chị H có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh V, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, cho chị H được ly hôn với anh V.

Về con chung: Trong thời gian chung sống chị H và anh V có một người con chung là cháu Phạm Lê P, sinh ngày 28/6/2012; hiện cháu P đang ở với mẹ; nguyện vọng của chị H được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu đến tuổi trưởng thành. Để đảm bảo điều kiện học hành, sinh hoạt và không gây xáo trộn trong cuộc sống của cháu P, HĐXX xét thấy cần giao cháu P cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi hai cháu đến tuổi trưởng thành, đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Lê Thị H không yêu cầu anh Phạm Ngọc V cấp dưỡng nuôi con chung nên không đặt ra giải quyết.

Anh Phạm Ngọc V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi quyền nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung; nợ chung: Chị Lê Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Chị Lê Thị H phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1, khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, khoản 3 Điều 81 và Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị H.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị H được ly hôn với anh Phạm Ngọc V.

- Về con chung: Giao con chung là cháu Phạm Lê Phương, sinh ngày 28/6/2012 cho chị Lê Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi hai cháu đến tuổi trưởng thành, đủ 18 tuổi.

- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Lê Thị H không yêu cầu anh Phạm Ngọc V cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Phạm Ngọc V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi quyền nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung; nợ chung: Chị Lê Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí: Chị Lê Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Được khấu trừ vào số tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/0011001 ngày 16/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ea H’leo, tỉnh Đắk Lắk.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn; bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ