vanban.org

Bản án 47/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận Toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Vũ Văn T.

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Vũ Văn T và chị Nguyễn Thị P. Về nuôi con chung: Anh Vũ Văn T và chị Nguyễn Thị P không có con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vũ Văn T- Nguyễn Thị P Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận Toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Vũ Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU ĐỨC
TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 22-08-2023
“V/v Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Trọng Hải.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Hạnh.

2. Bà Võ Lệ Huyền.

-Thư ký phiên tòa: Bà Tạ Thị Mỹ Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Hồng Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 598/2022/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2022 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2023QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Vũ Văn T, sinh năm 1982.

Hộ khẩu thường trú: Tổ 1, ấp SQ, xã Cẩm Đường, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

Chổ ở hiện nay: Tổ 1, ấp SQ, xã Cẩm Đường, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

Bị đơn: Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1986.

Hộ khẩu thường trú: Tổ 40, ấp XB, xã Xà Bang, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.

Chổ ở hiện nay: Tổ 40, ấp XB, xã Xà Bang, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.

(Anh T có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, chị P vắng mặt không lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết, nguyên đơn anh Vũ Văn T trình bày: Sau khi tìm hiểu một thời gian anh Vũ Văn T và chị Nguyễn Thị P có tổ chức lễ cưới trên tinh thần hoàn toàn tự nguyện và đăng ký kết hôn ngày 04 tháng 3 năm 2010 tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã Cẩm Đường, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Sau khi kết hôn thời gian đầu vợ chồng sống hòa thuận và hạnh phúc được một tháng vào tháng 4 năm 2010 thì thường xuyên phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không tin tưởng, cảm thông, chia sẽ trong cuộc sống cho nhau, tính tình không hợp, bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung nên thường hay cải vả, nên dần dần tình cảm vợ chồng không còn. Từ tháng 4 năm 2010 thì vợ chồng sống ly thân, chị P bỏ về bên gia đình cha mẹ ruột sinh sống tại ấp XB, xã xà Bang, huyện Châu Đức, còn anh T thì ở nhà cha mẹ ruột của anh T. Thời gian đầu khi vợ chồng ly thân thì cha mẹ của anh T có xuống nhà cha mẹ chị P để nói chuyện và khuyên nhủ hàn gắn lại tình cảm vợ chồng nhưng không đạt kết quả. Sau đó anh T thấy rằng tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt, tình cảm không còn nên không tìm cách để hàn gắn lại, chị P củng có thiện chí đoàn tụ, từ đó tình cảm vợ chồng không còn.

Trong thời gian sống ly thân cho đến nay đã lâu anh T xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung của vợ chồng không thể hòa hợp, mục đích hôn nhân không thể đạt được. Do vậy, anh T đề nghị Tòa án giải quyết các vấn đề sau:

Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với chị Nguyễn Thị P

Về con chung: Anh Vũ Văn T và chị Nguyễn Thị P không có con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

Đối với chị Nguyễn Thị P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn cố tình vắng mặt không có lý do vì vậy không thể lấy lời khai và tiến hành hòa giải được.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Bị đơn không thực hiện đúng phần quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.

Về nuôi con chung: Anh Vũ Văn T và chị Nguyễn Thị P không có con chung.

Về chia tài sản chung, nợ chung: Anh T không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Anh T và chị P sống chung với nhau có đăng ký kết hôn, nay anh T yêu cầu ly hôn nên đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Nơi cư trú của chị P ở xã Xà Bang, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu, nên Tòa án nhân dân huyện Châu Đức thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Anh T vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 227; Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt đối với anh T.

Chị P đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai (không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan) nhưng vẫn vắng mặt căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt chị P.

Về hôn nhân: Hôn nhân giữa anh T và chị P trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào ngày 04 tháng 3 năm 2010 tại UBND xã Đường, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Sau khi kết hôn, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được một tháng, từ 4 năm 2010 thì phát sinh mẫu thuẫn.

Nguyên nhân do vợ chồng không tin tưởng, cảm thông, chia sẽ với nhau, tính tình không hợp, bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, có nhiều ý kiến khác biệt không thể dung hòa nên thường xuyên cải vả. Sau khi mâu thuẫn thì chị P lại bỏ về gia đình cha mẹ ruột sinh sống. Do chị P bỏ đi nên vợ chồng sống ly thân, do đó vợ chồng cũng không có thời gian để gần gủi và cơ hội để hàn gắn. Măc dù gia đình anh T cũng đã đến gai đình chị P để mong hòa giải để vợ chồng về chung sống với nhau nhung không đạt kết quả. Ngoài ra anh T thấy rằng tình cảm vợ chồng không còn chị P không có thiện chí gây dựng lại hạnh phúc nên cũng để mặc cho tình cảm của hai của vợ chồng mất đi. Do mâu thuẫn nên vợ chồng không quan tâm tới nhau, cho đến nay tình càm vợ chồng càng phai nhạt. tình trạng mâu thuẫn của vợ chồng ngày càng trở lên căng thẳng trầm trọng hơn.

Trong thời gian sống ly thân cho đến nay anh T xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung của vợ chồng không thể hòa hợp, mục đích hôn nhân không thể đạt được nên xin ly hôn.

Sau khi thụ lý đơn yêu cầu ly hôn của anh T, Tòa án đã tiến hành triệu tập chị P để làm việc và hoà giải về quan hệ hôn nhân, nhưng chị P vẫn cố tình không đến, không lý do, điều đó chứng tỏ chị P không có thiện chí để đoàn tụ với anh T để cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình. Ngoài ra theo kết quả xác minh thì mâu thuẫn giữa anh T và chị P là có thật và hai người không sống chung đã lâu. Từ khi vợ chồng mâu thuẫn đến nay đã trải qua một thời gian dài và đã ly thân nhưng vợ chồng cũng không có biện pháp gì để hàn gắn lại hạnh phúc của gia đình.

Như vậy, cho thấy tình trạng hôn nhân giữa anh T và chị P ngày càng trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho anh T được ly hôn với chị P là có căn cứ.

Về nuôi con chung: Anh Vũ Văn T và chị Nguyễn Thị P không có con chung.

Về chia tài sản chung, nợ chung: Anh T không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

[5] Về án phí: Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Anh T phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm (DSST) đối với yêu cầu ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Chấp nhận Toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Vũ Văn T.

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Vũ Văn T và chị Nguyễn Thị P.

2. Về nuôi con chung: Anh Vũ Văn T và chị Nguyễn Thị P không có con chung.

3. Về chia tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Anh Vũ Văn T phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí DSST đối với yêu cầu ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) mà anh T đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Đức theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008469 ngày 06 tháng 12 năm 2022; Anh Vũ Văn T nộp xong án phí DSST đối với yêu cầu ly hôn.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (22-8-2023) các đương sự được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xin xét xử phúc thẩm, đối với các đương sự vắng mặt được tính từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ