vanban.org

Bản án 47/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện tranh chấp hợp đồng góp hụi và vay tài sản của chị Lê Thị Thanh V đối với anh Nguyễn Hoàng V và chị Lê Thị Mỹ D.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Lê Thị Thanh Vân - Nguyễn Hoàng Việt, Lê Thị Mỹ Dung"
  • Tòa quyết gì? 2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 463 Bộ luật Dân sự; Điều 471 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2023/DS-ST
Ngày: 09/6/2023
V/v “Tranh chấp về hợp đồng
góp hụi và vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Thành Diệp

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Quách Thị Yến Linh

2. Bà Mai Thị Thu Lan

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Tuyết Mai – Thư ký Tòa án nhân dân

Huyện Dương Minh Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu tham gia

phiên tòa: Bà Đoàn Thị Xuân Hà – kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh

Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 26/2023/TLST-DS, ngày 30 tháng 01 năm 2023, về việc “Tranh chấp về hợp đồng góp hụi và vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2023/QĐXXST-DS, ngày 21 tháng 4 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 31/2023/QĐ-ST, ngày 17/52023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lê Thị Thanh V, sinh năm 1981 (có mặt);

Địa chỉ: Ấp T, xã P, Huyện D, tỉnh T

Bị đơn: Anh Nguyễn Hoàng V, sinh năm 1997 (vắng mặt);

Chị Lê Thị Mỹ D, sinh năm 2000 (vắng mặt);

Cùng địa chỉ: Ấp H, xã P, Huyện D, tỉnh T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 30/01/2023 và các lời khai trong quá trình giải

quyết vụ án tại phiên tòa sơ thẩm – chị Lê Thị Thanh V trình bày như sau:

Chị làm thảo hụi, anh V và chị D có tham góp hụi cụ thể:

Dây hụi 2.000.000 đồng/tháng, mở ngày 10/4/2020, gồm 25 phần, anh V và

chị D tham gia 01 phần. Anh V, chị D đóng hụi sống được 12 kỳ, kỳ thứ 13 anh V và chị D hốt được số tiền 38.520.000 đồng, anh V, chị D có ký giấy nhận tiền. Sau đó anh V và chị D đóng hụi chết được 01 kỳ thì ngưng. Hiện anh V và chị D còn nợ 11 kỳ hụi chết x 2.000.000 đồng = 22.000.000 đồng.

Dây hụi 1.000.000 đồng/tháng, mở ngày 10/4/2020, gồm 33 phần, anh V và

chị D tham gia 01 phần. Anh V, chị D đóng hụi sống được 10 kỳ, kỳ thứ 11 anh V và chị D hốt được số tiền 27.140.000 đồng, anh V, chị D có ký giấy nhận tiền. Sau đó anh V và chị D đóng hụi chết được 09 kỳ thì ngưng. Hiện anh V và chị D còn nợ 13 kỳ hụi chết x 1.000.000 đồng = 13.000.000 đồng.

Dây hụi 1.000.000 đồng/tháng, mở ngày 10/4/2020, gồm 33 phần, anh V và

chị D tham gia 01 phần. Anh V, chị D đóng hụi sống được 10 kỳ, kỳ thứ 11 anh V và chị D hốt được số tiền 27.140.000 đồng, anh V, chị D không có ký giấy nhận tiền. Sau đó anh V và chị D đóng hụi chết được 09 kỳ thì ngưng. Hiện anh V và chị D còn nợ 12 kỳ hụi chết x 1.000.000 đồng = 12.000.000 đồng.

Ngoài ra, ngày 21/8/2022, anh V và chị D có vay số tiền 30.000.000 đồng,

anh V và chị D có ký biên nhận nợ.

Đối với dây hụi 1.000.000 đồng/tháng, anh V và chị D không có ký tên nhận

tiền nên chị rút lại phần này, chị chỉ yêu cầu anh V và chị D cùng có nghĩa vụ trả số tiền hụi còn nợ là 35.000.000 đồng và tiền vay còn nợ là 30.000.000 đồng. Tổng cộng là 65.000.000 đồng. Không yêu cầu tính lãi suất.

Bị đơn: Anh Nguyễn Hoàng V và chị Lê Thị Mỹ D vắng mặt.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương

Minh Châu:

Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi vào nghị án Thẩm phán, Hội

đồng xét xử, Thư ký phiên tòa chấp hành đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự. Về người tham gia tố tụng chị V có mặt, anh V, chị D vắng mặt.

Về nội dung:

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Thanh

V đối với anh Nguyễn Hoàng V và chị Lê Thị Mỹ D.

Buộc anh Nguyễn Hoàng V và chị Lê Thị Mỹ D cùng có trách nhiệm trả cho

chị Lê Thị Thanh V tiền hụi và tiền vay còn nợ là 65.000.000 đồng.

Tính án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại

phiên tòa, căn cứ vào ý kiến trình bày của các đương sự tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về thẩm quyền thụ lý vụ án: Bị đơn cư trú tại ấp Phước Hội, xã Phước

Ninh, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh, Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu thụ lý là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 39 của Bộ luật Dân sự 2015.

Về quan hệ tranh chấp: Chị Lê Thị Thanh V làm thảo hụi, anh V và chị D

có tham gia góp hụi, sau khi hốt hụi không đóng hụi chết, ngày 21/8/2022 anh V có ký nhận nợ với chị V chưa trả. Ngày 30/01/2023, chị V có đơn yêu cầu khởi kiện. Căn cứ vào Điều 471, Điều 463 của Bộ luật dân sự. Tòa án xác định đây là vụ án “Tranh chấp về hợp đồng góp hụi và vay tài sản”.

Về nội dung:

Xét thấy yêu cầu khởi kiện của chị V: Chị V là thảo hụi, anh V, chị D có

tham gia dây hụi 2.000.000 đồng/tháng, mở ngày 10/4/2020, anh V, chị D đóng hụi sống được 12 kỳ, kỳ thứ 13 anh V và chị D hốt được số tiền 38.520.000 đồng, anh V, chị D có ký giấy nhận tiền. Anh V và chị D đóng hụi chết được 01 kỳ thì ngưng. Dây hụi này anh V và chị D còn nợ 22.000.000 đồng.

Dây hụi 1.000.000 đồng/tháng, mở ngày 10/4/2020, anh V và chị D đóng

hụi sống được 10 kỳ, kỳ thứ 11 anh V và chị D hốt được số tiền 27.140.000 đồng, anh V, chị D có ký giấy nhận tiền. Sau đó anh V và chị D đóng hụi chết được 09 kỳ thì ngưng. Dây này Việt và chị D còn nợ 13.000.000 đồng.

Ngày 21/8/2022, anh V có ký nhận nợ vay số tiền 30.000.000 đồng, anh

V và chị D đến nay chưa trả cho chị V. Nay chị V yêu cầu anh V và chị D cùng có nghĩa vụ trả số tiền hụi còn nợ là 35.000.000 đồng và tiền vay còn nợ là 30.000.000 đồng. Tổng cộng là 65.000.000 đồng.

Anh Nguyễn Hoàng V và chị Lê Thị Mỹ D đã được Tòa án tống đạt các

thủ tục tố tụng hợp lệ nhưng anh V và chị D vắng mặt không tham gia phiên hòa giải cũng như không tham dự phiên tòa là từ bỏ quyền lợi, nghĩa vụ của mình. Từ các chứng cứ, lời trình bày của chị V, giấy đăng hụi, giấy vay tiền, có cơ sở xác định anh V và chị D có tham gia góp hụi, khi hốt hụi sau đó chưa đóng hụi chết và vay tiền của chị V chưa trả. Do vậy cần buộc anh Nguyễn Hoàng V và chị Lê Thị Mỹ D cùng có nghĩa vụ trả cho chị Lê Thị Thanh V số tiền hụi và tiền vay là 65.000.000 đồng. Ghi nhận chị V không yêu cầu tính lãi suất.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử

chấp nhận.

Về án phí: Anh V và chị D phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 471, Điều 463 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30 tháng 12 năm

2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện tranh chấp hợp đồng góp hụi và vay tài sản

của chị Lê Thị Thanh V đối với anh Nguyễn Hoàng V và chị Lê Thị Mỹ D.

2. Buộc anh Nguyễn Hoàng V và chị Lê Thị Mỹ D cùng có nghĩa vụ trả cho

chị Lê Thị Thanh V 35.000.000 đồng tiền hụi và 30.000.000 đồng tiền vay. Tổng cộng nợ hụi và nợ vay là 65.000.000 đồng (sáu mươi lăm triệu đồng). Ghi nhận chị V không yêu cầu tính lãi suất.

Kể từ khi người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người

phải thi hành án không chịu trả số tiền nêu trên, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả số tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Hoàng V và chị Lê Thị Mỹ D

phải chịu 3.250.000 đồng. Hoàn trả lại cho chị Lê Thị Thanh V 2.000.000 đồng theo biên lai thu số 0012991, ngày 30/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.

Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành

án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự

Báo cho các bên đương sự biết được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân

tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh V và chị D được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án, hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Nôi nhaän:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tænh Taây Ninh;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND H Dương Minh Châu;

- THADS H Dương Minh Châu;

- Löu: Taäp aùn;

- Caùc ñöông söï;

- Löu hoà sô./.

VÕ THÀNH DIỆP

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

TỈNH TÂY NINH

Dương Minh Châu, ngày 09 tháng 6 năm 2023

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào lúc........giờ.........ngày 09 tháng 6 năm 2023.

Tại trụ sở Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu

, tỉnh Tây Ninh.

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Thành Diệp.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Quách Thị Yến Linh

2. Bà Mai Thị Thu Lan

Tiến hành nghị án vụ án dân sự thụ lý số 26/2023/TLST- DS, ngày 30 tháng

01 năm 2023 về việc “Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản và góp hụi” giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lê Thị Thanh V, sinh năm 1981 (có mặt);

Địa chỉ: Ấp Phước Tân, xã Phước Ninh, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây

Ninh.

Bị đơn: Anh Nguyễn Hoàng V, sinh năm 1997 (vắng mặt);

Chị Lê Thị Mỹ D, sinh năm 2000 (vắng mặt);

Cùng địa chỉ: Ấp Phước Hội, xã Phước Ninh, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh

Tây Ninh.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả

tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH

CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:

+ Ý kiến của Hội thẩm nhân dân Quách Thị Yến Linh:

Áp dụng các Điều 471, 463 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30 tháng 12 năm

2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện tranh chấp hợp đồng góp hụi và vay tài sản

của chị Lê Thị Thanh V đối với anh Nguyễn Hoàng V và chị Lê Thị Mỹ D.

2. Buộc anh Nguyễn Hoàng V và chị Lê Thị Mỹ D cùng có nghĩa vụ trả

cho chị Lê Thị Thanh V 35.000.000 đồng tiền hụi và 30.000.000 đồng tiền vay. Tổng cộng nợ hụi và nợ vay là 65.000.000 đồng (sáu mươi bốn triệu đồng). Ghi nhận chị V không yêu cầu tính lãi suất.

Kể từ khi người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người

phải thi hành án không chịu trả số tiền nêu trên, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả số tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Hoàng V và chị Lê Thị Mỹ D

phải chịu 3.250.000 đồng. Hoàn trả lại cho chị Lê Thị Thanh V 2.000.000 đồng theo biên lai thu số 0012991, ngày 30/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm lên Tòa án nhân dân tỉnh

Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Ý kiến của Hội thẩm nhân dân Mai Thị Thu Lan: Thống nhất với ý kiến

của Hội thẩm nhân dân Quạch Thị Yến Linh.

Ý kiến của Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Thống nhất theo ý kiến của

Hội thẩm nhân dân Quạch Thị Yến Linh.

Kết quả biểu quyết 3/3 = 100%.

Nghị án kết thúc vào hồi.......giờ........phút, ngày........tháng.......năm 2023.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử

cùng nghe và ký tên dưới đây. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

BIÊN BẢN

Về việc thỏa thuận đo đạc, định giá, thẩm định giá phần đất tranh chấp

Hồi 14 giờ 00 phút, ngày 05 tháng 8 năm 2019

Tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Dương Minh Châu.

Tiến hành làm việc để các đương sự thoả thuận với nhau về việc thỏa thuận đo

đạc, định giá, thẩm định giá vụ án dân sự thụ lý số: 210/2019/TLST-DS ngày 05 tháng 6 năm 2019.

I. Những người tiến hành tố tụng:

Thẩm phán - Chủ trì phiên họp: Bà Dương Thị Bích Hằng.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên họp: Bà Trần Thị Phương.

II. Những người tham gia buổi làm việc:

1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị Sáu, sinh năm: 1960; địa chỉ: Số nhà 850, ấp Khởi hà,

xã Cầu Khởi, huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.

2. Bị đơn: Bà Phạm Thị Thúy Kiều, sinh năm:1977; địa chỉ: Số nhà 42A, Ấp

Khởi Hà, xã Cầu Khởi, huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Khoa Đăng, sinh năm:

1962; địa chỉ: Số nhà 42A, ấp Khởi Hà, xã Cầu Khởi, huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.

(Tất cả đều có mặt)

NỘI DUNG

* Nguyên đơn bà Kiều trình bày:

Phần đất tôi đang tranh chấp với chị Kiều giá thực tế hiện nay khoảng

900.000.000 đồng. Tôi yêu cầu Tòa án đo đạc, định giá, thẩm định giá phần đất và tài sản trên đất để giải quyết theo quy định của pháp luật. Tiền tạm ứng chi phí đo đạc, định giá, thẩm định giá tôi sẽ nộp theo quy định. Đề nghị Tòa án lựa chọn Công ty đo đạc, định giá, thẩm định giá để đảm bảo quyền lợi của các bên.

* Bị đơn bà Kiều trình bày:

Tôi lo buôn bán nên cũng không quan tâm giá đất là bao nhiêu. Tôi không

biết giá đất thực tế phần đất bà Sáu đang tranh chấp với tôi hiện nay là bao nhiêu. Tôi không yêu cầu Tòa án đo đạc, định giá. Bà Sáu yêu cầu sao thì Tòa án cứ làm. Việc Tòa án đo đạc, định giá, lựa chọn Công ty tôi không có ý kiến gì.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đăng trình bày:

Giá đất thực tế phần đất đang tranh chấp tôi không biết. Tòa án đo đạc, định

giá, thẩm định giá tôi không có ý kiến gì. Việc Tòa án lựa chọn Công ty đo đạc, định giá theo yêu cầu của bà Sáu tôi đồng ý.

Tôi sẽ làm đơn yêu cầu độc lập gửi cho Tòa án trong thời gian 07 ngày tính

từ ngày hôm nay. Nếu hết thời gian tôi không yêu cầu Tòa án tiếp tục giải quyết vụ kiện theo quy định của pháp luật.

Buổi làm việc kết thúc vào hồi 15 giờ 00 phút, ngày 06 tháng 8 năm 2019.

CÁC ĐƯƠNG SỰ

THƯ KÝ TÒA ÁN

THẨM PHÁN THAM GIA PHIÊN HỌP

GHI BIÊN BẢN PHIÊN HỌP

CHỦ TRÌ PHIÊN HỌP

Dương Thị Bích Hằng Nôi nhaän:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tænh Taây Ninh;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND H. Hòa Thành;

- THADS H. Hòa Thành;

- Löu : Taäp aùn;

- Caùc ñöông söï;

- Löu hoà sô./.

VÕ THÀNH DIỆP

Xét hợp đồng vay tài sản giữa anh Hùng với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh tỉnh Tây Ninh. anh Hùng vay số tiền 450.000.000 đồng khi Ngân hàng có yêu cầu sẽ giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác.lãi suất trong hạn là... lãi suất quá hạn là.. mặc dù Ngân hàng không có yêu cầu, không nộp tiền tạm ứng án phí, tuy nhiên để giải quyết triệt để vụ án nên cần buộc anh Hùng có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc tính đến ngày.. là......Kể từ ngày tiếp theo anh Hùng còn phải chịu lãi suất theo hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi thi hành xong số tiền gốc.

Xét Yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn Hùng và yêu cầu phản tố của bà

Đặng Thị Hướng nhận thấy

Xét yêu cầu phản tố của bà Hướng: Bà huống cho rằng do muốn cần tiền

gấp nên mới vay tiền của anh Hùng, theo yêu cầu của anh Hùng thì pah3i làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất, do bà lớn tuổi nên có cùng con gái là Lầu thị Kim Liên đến Phòng công chứng tâm Thanh công chứng hợp đ8ồng chuyển nhượng quyến sử dụng đất cho anh Hùng giá 300.00.000 đồng, thực sự là bà chỉ vay tiền của anh Hùngđến ngàyvà nhà ở mà chỉ là hợp đồng vay tiền, ông Hùng thì khẳng định bà Hướng có hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhà ở cho ông và hai bên đã thực hiện đầy đủ các thủ tục và hiện ông đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử đất việc chuyển quyền sử dụng đất và nhà ở giữa bà và ông Hùng là tự nguyện không có bị ép buộc, về trình tự thủ tục chuyển quyền đã thức hiện đúng theo quy định của pháp luật, hai bên đã có công chứng hợp đồng, ông Hùng đã làm các thủ tục chuyển quyền và đã được sở tài nguyên và Môi trường tỉnh Tây Ninh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày do vậy bác yêu cầu phản tố của bà hướng cho rằng không có hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng mà chỉ là hợp đồng vay tiền.

Xét yêu cầu của ông Hùng thấy rằng việc Hợp đồng chuyển quyền sử dụng

đất của bà Hướng và ông Hùng là có thật, giá trị hợp đồng với số tiền là 300.000.000 đồng (do chị Lầu Thị Liên là con ruột bà Hướng nhận) hợp đồng không có sự ép buộc, tại UBND xã Trường Tây, huyện hòa Thành hai bên tiếp tục làm giấy thỏa thuận, và sau khi chuyển nhượng ông Hùng cũng đồng ý thời gian 03 tháng nếu bà Hướng chuột nhà lại thì ông Hùng cũng đồng ý, từ đó thể hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Hướng và ông Hùng là có thật mà không phải như lời trình bày của bà Hướng là hợp đồng giả tạo, ngày 05/11/2015 ông Hùng đã được Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Tây Ninh cấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 17/10/2016 ông Hùng đã đem thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Tây Ninh. Do đó cần chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn Hùng về “Dòi tài sản là quyền sử dụng đất và nhà ỡ” buộc bà Đặng Thị Hướng và chị Lầu Thị Đẹp cùng toàn bộ vật dụng trong nhà đi nơi khác để giao trả lại cho ông Nguyễn Văn Hùng phần đất diện tích 150,1 m2, đất có tứ cận Hướng Đông giáp đường Trần Phú dài 8,13 m; Hướng Tây giáp thửa 164 dài 4,03 m; Hướng Nam giáp thửa 557 dài 18,35 m; Hướng Bắc giáp thửa 559 dài 15,16 m + 1,59 m + 6,96 m, trên đất có căn nhà xây tường mái ngói, đất do ông Nguyễn văn Hùng được Sở tài nguyên mội trường tỉnh Tây Ninh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 05/11/2016.

Cỡ chữ