- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đàm Văn T - Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG HÒA TỈNH CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 47/2022/HSST Ngày 21/9/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG HÒA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm ở điểm cầu trung tâm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nông Thanh Điệp
Các Hội thẩm nhân dân: ông Phan Văn Long và ông Mông Văn Thành
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: bà Phan Thị Thanh Tâm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Quảng Hòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa tham gia phiên tòa: ông Hoàng Văn Biên - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 9 năm 2022 Tòa án nhân dân huyện Quảng Hòa mở phiên tòa trực tuyến xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 44/2022/TLST-HS ngày 24/8/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2022/HSST-QĐTA ngày 07/9/2022 tại điểm cầu trung tâm – Phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng và điểm cầu thành phần – Phòng xét xử trực tuyến Công an huyện Quảng Hòa đối với bị cáo:
ĐÀM VĂN T - sinh ngày 04/11/1991.
Số CMND: 085014xxx cấp ngày 27/11/2015, nơi cấp: Công an tỉnh Cao Bằng.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: xóm B, xã C, huyện Q, tỉnh Cao Bằng.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không nghề; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông: Đàm X, sinh năm 1961; Con bà: Bế N, sinh năm 1962; Vợ, con: Không có; Bị cáo là con thứ tư trong gia đình có 05 anh chị em.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 16/5/2022 đến nay, có mặt tại phiên toà.
- Người làm chứng:
1. Đinh Văn P - sinh năm 1989
Địa chỉ: xóm B, xã C, huyện Q, tỉnh Cao Bằng.
2. Đàm Văn H - sinh năm 1991
Địa chỉ: xóm B, xã C, huyện Q, tỉnh Cao Bằng.
3. Lăng Công N - sinh năm 1985
Địa chỉ: xóm B, xã Đ, huyện Q, tỉnh Cao Bằng.
Tất cả những người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 17 giờ 30 ngày 16/5/2022, Tổ công tác Công an huyện Quảng Hòa phối hợp với Công an xã Cách Linh, huyện Quảng Hòa thực hiện nhiệm vụ tại xóm Bản Mển, xã Cách Linh, huyện Quảng Hòa thì phát hiện Lăng Công N đang ngồi trong bụi cây keo ở cạnh đường có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy. Tổ công tác tiến hành kiểm tra, phát hiện trong lòng bàn tay phải của N đang cầm 01 (một) bơm kim tiêm đã qua sử dụng và trên mặt đất gần vị trí chân phải của N 01 (một) mảnh giấy bạc màu vàng. N khai nhận, bơm kim tiêm là dụng cụ để sử dụng ma túy, mảnh giấy bạc màu vàng là giấy gói chất ma túy, loại Heroine N vừa sử dụng xong. Còn nguồn gốc gói ma túy vừa sử dụng Nghiệp mua với Đàm Văn T với giá 200.000 đồng tại đoạn đường liên xóm Bản Mển, xã Cách Linh vào khoảng 17 giờ cùng ngày. Tổ công tác đã lập biên bản sự việc, thu giữ vật chứng và đưa người về trụ sở để điều tra làm rõ.
Căn cứ lời khai của Nghiệp, cùng ngày Cơ quan CSĐT Công an huyện Quảng Hòa đã tiến hành khám xét khẩn cấp người và chỗ ở đối với Đàm Văn T tại xóm Bản Mển, xã Cách Linh, huyện Quảng Hòa, phát hiện và thu giữ:
- Trên người của T: Số tiền 500.000 đồng trong túi quần đằng sau bên phải. 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO, màu xanh, số IMEL1: 863851048375754; số IMEL2: 863851048375747, gắn 02 sim số 0342.623.520 và 0836.077.456 trong túi quần đằng trước bên trái. Qua kiểm tra phần nhật ký cuộc gọi, có cuộc gọi đến từ số điện thoại 0962.459.474 (không lưu tên trên danh bạ) vào lúc 16 giờ 39 phút ngày 16/5/2012 và 02 cuộc gọi đi đến số điện thoại 0962.459.474 vào lúc 16 giờ 50 và lúc 17 giờ 07 phút cùng ngày. T khai nhận số điện thoại trên là của N gọi đến để đặt mua ma túy.
- Trong phòng ngủ của T: 01 (một) cân tiểu ly điện tử có 04 (bốn) nút bấm, không rõ nhãn hiệu, màu trắng bạc để trong balo treo trên tường; 01 (một) gói nhỏ được gói bằng giấy bạc màu vàng, bên trong chứa chất bột màu trắng trong túi áo treo trên tường; 01 (một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu White Horse, lớp giấy bạc bên trong vỏ bao đã bị xé rách.
- Trong hộp giấy trên bàn thờ: 01 (một) gói được gói bằng giấy bạc màu vàng của vỏ bao thuốc lá, bên trong chứa chất bột màu trắng.
- Trong lỗ gạch trên gác xép: 02 (hai) mảnh giấy của vỏ bao thuốc lá, kích thước 03x03cm.
Hồi 10 giờ 30 ngày 17/5/2022, Cơ quan CSĐT tiến hành cần xác định khối lượng vật chứng thu giữ khi khám xét chỗ ở của T, xác định: Số chất bột màu trắng có trong 02 gói giấy bạc màu vàng có khối lượng là 0,117gam. Sau khi cân tiến hành niêm phong lại và gửi giám định.
Kết luận giám định số 88/KL-KTHS ngày 24/5/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong phòng bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Heroine”. Sau giám định Cơ quan giám định hoàn mẫu còn lại sau giám định có khối lượng 0,0634 gam.
Quá trình điều tra T khai nhận: Các đồ vật, tài liệu Cơ quan CSĐT thu giữ trên người T và khi khám xét khẩn cấp là của T đều liên quan đến hành vi mua bán trái phép chất ma túy, còn 02 gói ma túy thu giữ trong phòng ngủ là số còn lại trong gói ma túy T mua với một người đàn ông không quen biết tại xóm Bó Tờ, thị trấn Hòa Thuận, Quảng Hòa, Cao Bằng vào ngày 10/5/2002 với giá 1.000.000 đồng. Sau đó đem về nhà chia ra được 15 gói nhỏ, gói bằng giấy bạc màu vàng, mục đích để sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời. Sau khi chia nhỏ số ma túy trên, T đã sử dụng hết 08 gói và với hình thức giao dịch gặp mặt mua bán trực tiếp hoặc gọi điện thoại hẹn địa điểm giao dịch, T đã bán được 05 (năm) gói Heroine cho những người sau, cụ thể:
- Khoảng 17 giờ ngày 14/5/2022, T bán cho Đinh Văn P 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng tại khu vực trong xóm Bản Mển, xã Cách Linh. Hình thức giao dịch là gặp mặt mua bán trực tiếp.
- Sáng ngày 16/5/2022, bán cho Đàm Văn H 01 (một) gói Heroine với giá 100.000 đồng tại khu vực trong xóm Bản Mển, xã Cách Linh. Hình thức giao dịch là gặp mặt mua bán trực tiếp.
- Khoảng 17 giờ ngày 16/5/2022, bán cho Lăng Công N 01 (một) gói Heroine với giá 200.000 đồng tại đoạn đường liên xóm Bản Mển, xã Cách Linh. Hình thức giao dịch là gọi điện thoại.
- Ngoài ra, T còn được bán cho một người tên S (người cùng xóm Bản Mến, xã Cách Linh, huyện Quảng Hòa) 02 lần, mỗi lần 01 (một) gói Heroine với giá 100.000 đồng (Thu không nhớ ngày).
Căn cứ lời khai của Đàm Văn T, Cơ quan CSĐT Công an huyện Quảng Hòa đã triệu tập, lấy lời khai đối với các đối tượng có liên quan. Tại Cơ quan điều tra Lăng Công N, Đinh Văn P và Đàm Văn H (có lý lịch như trên) đều khai nhận bản thân là người sử dụng ma túy, loại Heroine và được mua ma túy với T về để sử dụng, lời khai của các đối tượng là phù hợp với lời khai của T.
Đối với đối tượng có tên S theo lời khai của T, qua xác minh được biết trên địa bàn xóm Bản Mển, xã Cách Linh, huyện Quảng Hòa có người tên S, họ tên đầy đủ là Vương Văn S, sinh năm 1999 nhưng hiện nay S không có mặt ở địa phương, đi đâu làm gì không rõ. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an huyện Quảng Hòa không lấy được lời khai để mở rộng điều tra. Tuy nhiên, quá trình điều tra T vẫn khẳng định được bán ma túy cho S và lời khai của T phù hợp với số lượng ma túy T mua về chia ra (15 gói) để bán và đã sử dụng cho bản thân.
Do không xác định được đối tượng đã bán ma túy cho Đàm Văn T, nên không mở rộng điều tra, xử lý được.
Đối với Lăng Công N có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an huyện Quảng Hòa đã ra quyết định xử phạt cảnh cáo. Đối với Đinh Văn P và Đàm Văn H có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, cơ quan điều tra đã thông báo đến chính quyền địa phương quản lý.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và luận tội bị cáo theo như Cáo trạng số 45/CT-VKS-QH ngày 23/8/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt Đàm Văn T từ 07 năm đến 08 năm tù. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và xử lý vật chứng theo quy định. Không xử phạt tiền (bổ sung) do bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Quảng Hòa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn nhận tội, lời nhận tội của bị cáo đều phù hợp với bản tự khai, biên bản hỏi cung, đối chất, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, trên cơ sở được thẩm tra, tranh tụng công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận:
Do nghiện ma túy cho nên vào ngày 10/5/2002 Đàm Văn T đã mua 1.000.000 đồng ma túy với một người đàn ông không quen biết tại xóm Bó Tờ, thị trấn Hòa Thuận, huyện Quảng Hòa, sau đó đem về nhà chia ra được 15 gói nhỏ, gói bằng giấy bạc màu vàng, mục đích để sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời. T đã sử dụng hết 08 gói và đã bán được 05 (năm) gói Heroine cho những người sau:
- Khoảng 17 giờ ngày 14/5/2022, Thu bán cho Đinh Văn P (sinh năm 1989, trú tại: xóm Bản Mển, xã Cách Linh, huyện Quảng Hòa) 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng tại khu vực trong xóm Bản Mển, xã Cách Linh. Hình thức giao dịch là gặp mặt mua bán trực tiếp.
- Sáng ngày 16/5/2022, bán cho Đàm Văn H (sinh năm 1991, cùng trú tai: xóm Bản Mển, xã Cách Linh, huyện Quảng Hòa) 01 (một) gói Heroine với giá 100.000 đồng tại khu vực trong xóm Bản Mển, xã Cách Linh. Hình thức giao dịch là gặp mặt mua bán trực tiếp.
- Khoảng 17 giờ ngày 16/5/2022, bán cho Lăng Công N (sinh năm 1990, trú tại: Bản Chu, xã Đại Sơn, huyện Quảng Hòa 01 (một) gói Heroine với giá 200.000 đồng tại đoạn đường liên xóm Bản Mển, xã Cách Linh. Hình thức giao dịch là gọi điện thoại và đưa ma túy.
- Ngoài ra, T còn được bán cho một người tên S (người cùng xóm Bản Mển, xã Cách Linh, huyện Quảng Hòa) 02 lần, mỗi lần 01 (một) gói Heroine với giá 100.000 đồng (T không nhớ ngày).
Tổng cộng thu lợi bất chính 700.000 đồng. Còn 02 gói Heroine chưa kịp sử dụng hay bán lại thì bị cơ quan chức năng phát hiện, thu giữ có khối lượng 0,117 gam, giám định kết luận là ma túy, loại Heroine.
Như vậy, hành vi của bị cáo Đàm Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Do đó Cáo trạng số 45/CT-VKSQH ngày 23/8/2022 của VKSND huyện Quảng Hòa truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Xét tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Đàm Văn T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của ma túy và là mặt hàng nhà nước cấm mua bán, nhưng do hám lợi, bị cáo đã mua ma túy về để nhằm mục đích vừa sử dụng vừa bán cho những người nghiện, điều đó góp phần làm gia tăng các đối tượng nghiện ma túy trên địa bàn, gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an trong khu vực, bị quần chúng nhân dân lên án. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến việc quản lý của Nhà nước về chất ma túy, vì vậy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung. Tuy nhiên bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, trong quá trình điều tra và phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, do đó bị cáo sẽ được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có. Không áp dụng hình phạt tiền (bổ sung) vì bị cáo không có thu nhập.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên luận tội và đề nghị áp dụng các điều luật, mức hình phạt tù đối với bị cáo và xử lý vật chứng, án phí là có căn cứ pháp luật.
Phần tranh luận bị cáo đã nhận tội và không có ý kiến tranh luận.
Phần nói lời sau cùng: bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất để sửa lỗi lầm, sớm trở về với gia đình.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 (Một) 01 phong bì niêm phong mặt trước ghi “Gói giấy và vỏ niêm phong ban đầu của Đàm Văn T”. Bên trong gồm toàn bộ giấy gói và vỏ niêm phong ban đầu; 01 (Một) phong bì niêm phong mặt trước ghi: “Hoàn mẫu sau giám định vụ: Đàm Văn T có hành vi Mua bán trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 16/5/2022”. Bên trong là mẫu còn lại sau giam đính có khối lượng 0,0634 gam; 01 (Một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu White Horse và 02 (Hai) mảnh giấy của vỏ bao thuốc lá, kích thước 03x03cm; 01 (Một) bơm kim tiêm và 01 (Một) mảnh giấy bạc màu vàng thu giữ của Lăng Công N. Đây là vật chứng của vụ án, là chất ma túy hoàn lại sau giám định, nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu để tiêu hủy.
- Đối với số tiền 500.000 đồng thu giữ của bị cáo Đàm Văn T, có nguồn gốc do bán ma túy cho Đinh Văn P, Đàm Văn H, Lăng Công N mà có, vì vậy sẽ bị tịch thu để sung ngân sách nhà nước. Ngoài ra cần truy thu 200.000 đồng do bị cáo bán ma túy cho Vương Văn S để sung ngân sách nhà nước.
- Đối với 01 (Một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO, màu xanh, số IMEL 1: 863851048375754; số IMEL 2: 863851048375747, gắn 02 sim số. 0342.623.520 và 0836.077.456 và 01 (Một) cân tiểu ly điện tử có 04 (bốn) nút bấm, không rõ nhãn hiệu, màu trắng bạc được bị cáo dùng để liên lạc mua bán và cân ma túy, vì vậy cần tịch thu phát mại sung ngân sách nhà nước.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự:
- Tuyên bố bị cáo Đàm Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Đàm Văn T 07 (Bảy) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/5/2022.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
- Tịch thu để tiêu hủy: 01 (Một) 01 phong bì niêm phong mặt trước ghi “Gói giấy và vỏ niêm phong ban đầu của Đàm Văn T”. Bên trong gồm toàn bộ giấy gói và vỏ niêm phong ban đầu; 01 (Một) phong bì niêm phong mặt trước ghi: “Hoàn mẫu sau giám định vụ: Đàm Văn T có hành vi Mua bán trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 16/5/2022”. Bên trong là mẫu còn lại sau giám định có khối lượng 0,0634 gam; 01 (Một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu White Horse và 02 (Hai) mảnh giấy của vỏ bao thuốc lá, kích thước 03x 03cm; 01 (Một) bơm kim tiêm và 01 (Một) mảnh giấy bạc màu vàng thu giữ của Lăng Công N.
- Tịch thu 500.000,đ và truy thu 200.000,đ do bị cáo Đàm Văn T bán ma túy mà có để sung ngân sách nhà nước.
- Tịch thu để phát mại sung ngân sách nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO, màu xanh, số IMEL 1: 863851048375754; số IMEL 2: 863851048375747, gắn 02 sim số. 0342.623.520 và 0836.077.456 và 01 (Một) cân tiểu ly điện tử có 04 (bốn) nút bấm, không rõ nhãn hiệu, màu trắng bạc của bị cáo Đàm Văn T.
Số vật chứng hiện đang được tạm giữ tại kho tang vật của Chi cục thi hành án dân sự huyện Quảng Hòa, sẽ được đưa ra thi hành khi bản án có hiệu lực pháp luật.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Điều 21, Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Đàm Văn T phải chịu 200.000,đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung Ngân sách nhà nước.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Án xử sơ thẩm công khai có mặt bị cáo, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cao Bằng; - VKSND tỉnh Cao Bằng; - Phòng hồ sơ - CA tỉnh Cao Bằng; - Sở Tư pháp tỉnh Cao Bằng; - VKSND huyện Quảng Hòa; - Công an huyện Quảng Hòa; - Chi Cục THA DS huyện QH; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nông Thanh Điệp |