vanban.org

Bản án 47/2022/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 11, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 12/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tạm giam bị cáo: Trần Đức T, sinh năm 1993; nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: 416/18A đường Lạc Long Quân, Phường 5, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: 024 lô E, chung cư Lạc Long Quân, Phường 5, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017). Thời hạn tạm giam là 45 ngày (bốn mươi lăm ngày), kể từ ngày tuyên án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tạm giam bị cáo: Trần Đức T, sinh năm 1993; nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: 416/18A đường Lạc Long Quân, Phường 5, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: 024 lô E, chung cư Lạc Long Quân, Phường 5, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 109 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 113 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2022/HS-ST
Ngày 12/7/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Phúc.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Ngọc Thảo;

Ông Nguyễn Thanh Tịnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Dương – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh

tham gia phiên tòa:

Ông Trần Vi Hải - Kiểm sát viên.

Trong ngày 12 tháng 7 năm 2022, tại Phòng xử A trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 34/2022/TLST-HS ngày 18 tháng 5 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2022/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 6 năm 2022 đối với bị cáo:

Trần Đức T, tên gọi khác: Không có; sinh ngày 17/11/1993 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: đường L, Phường 5, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: chung cư L, Phường 5, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không có; trình độ văn hoá (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Thiện L và bà Nguyễn Thị M; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Không có, tiền sự: Không có; bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 21/02/2022; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Trần Thị Cẩm Gi, sinh năm 1989; địa chỉ: chung cư L, Phường 5, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 16 giờ 50 phút ngày 21/02/2022, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy Công an Quận 11 và Công an Phường 1, Quận 11 phát hiện Trần Đức T điều khiển xe môtô biển số 59M1 - 450.40 đi đến bên hông nhà số 8/32 đường Tân Hóa, Phường 1, Quận 11 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện trong túi quần phía trước bên trái của T có 01 bao lì xì màu đỏ, bên trong có 02 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy, nên đưa T cùng vật chứng về trụ sở Công an Phường 1, Quận 11 lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 giải quyết.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 đã đưa Trần Đức T cùng gói niêm phong bên ngoài có chữ ký, dấu vân tay của T để giám định. Tại bản Kết luận giám định số 1264/KL-KTHS ngày 02/3/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh xác định: Tinh thể không màu trong 02 gói nylon là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,5860g, loại Methamphetamine.

Tại Cơ quan điều tra, Trần Đức T khai nhận: 02 gói nylon chứa chứa tinh thể không màu mà công an thu giữ là ma túy đá, Trần Đức T cất giữ để sử dụng. Nguồn gốc số ma túy, vào chiều 21/02/2022, Trần Đức T gọi điện thoại cho Linh (không rõ lai lịch) để hỏi mua ma túy với giá 400.000 đồng và Linh hẹn giao ma túy tại giao lộ Đường số 4 và Đường số 3B, phường Bình Hưng Hòa A, quận Bình Tân. Sau khi nhận ma túy, T điều khiển xe trên đường về thì bị công an kiểm tra và bắt quả tang. Do bị can T không xác định được người đã bán ma túy, nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để làm rõ. Qua xét nghiệm chất ma túy, kết quả xác định Trần Đức T dương tính với ma túy.

Vật chứng và tài sản thu giữ:

- 02 gói nylon được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Trần Đức T và hình dấu Công an Phường 1, Quận 11 là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,5860g, loại Methamphetamine. Khối lượng còn lại sau giám định là 0,5037g.

- 01 bao lì xì màu đỏ, bị cáo T dùng để cất giấu 02 gói ma túy; 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu xanh, là tài sản của bị cáo T đã dùng để liên lạc mua ma túy;

- 01 xe môtô hiệu Liberty, màu trắng, biển số 59M1 - 450.40. Cơ quan điều tra xác minh được biết chiếc xe môtô trên là do ông Nguyễn Văn K (Sinh năm: 1966 - Nơi đăng ký thường trú: Chung cư L, Phường 5, Quận 11) đứng tên chủ sở hữu và số khung, số máy của chiếc xe không thay đổi. Tuy nhiên qua xác minh tại Công an Phường 5, Quận 11 được biết hiện nay ông Nguyễn Văn K đã bán nhà đi khỏi địa phương, không rõ nơi cư trú.

Chị Trần Thị Cẩm Gi (Sinh năm: 1989 - Nơi cư trú: Chung cư L, Phường 5, Quận 11) cho biết chiếc xe môtô biển số 59M1 - 450.40 là của người cậu tên Nguyễn Văn K đứng tên chủ sở hữu, sau đó chị Gi đã mua lại chiếc xe trên, nhưng do nghĩ là người trong gia đình nên chị Gi không có làm giấy tờ mua bán, sang tên chủ xe. Vào chiều ngày 21/02/2022, chị Gi có cho em ruột là bị cáo Trần Đức T mượn chiếc xe trên để đi công việc, bị cáo T dùng xe đi đâu và làm gì thì chị Gi không rõ.

Bản cáo trạng số 38/CT-VKSQ11 ngày 16 tháng 5 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 truy tố bị cáo Trần Đức T tội danh “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo có lời khai phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra và những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 trình bày lời luận tội, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Trần Đức T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù; đồng thời đề nghị hướng xử lý vật chứng như sau: Tịch thu và tiêu hủy: 02 gói nylon được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Trần Đức T và hình dấu Công an Phường 1, Quận 11 là ma túy ở thể rắn; 01 bao lì xì màu đỏ, bị cáo T dùng để cất giấu 02 gói ma túy. Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu xanh, là điện thoại bị cáo T đã dùng để liên lạc mua ma túy; thông báo trong thời hạn quy định để chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp (nếu có) đến nhận đối với chiếc xe môtô hiệu Liberty, màu trắng, biển số 59M1 - 450.40. Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra, những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và các tang vật thu giữ được. Do đó, có đủ cơ sở để xác định:

Vào khoảng 16 giờ 50 phút ngày 21/02/2022, tại bên hông nhà số 8/32 Tân Hóa, Phường 1, Quận 11, Trần Đức T đã có hành vi cất giữ trái phép 0,5860g ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng, thì bị phát hiện bắt quả tang.

Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, ý thức được việc gây nguy hiểm cho xã hội khi thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng vẫn thực hiện, nên có lỗi cố ý trực tiếp.

Hành vi của bị cáo đã đủ dấu hiệu cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo đã vi phạm đến chính sách độc quyền kiểm soát, quản lý các chất gây nghiện của Nhà nước, đặc biệt là các chất gây nghiện thuộc danh mục các chất ma túy, tiền chất và các chất hóa học tham gia vào quá trình chế tạo các chất ma túy, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương, đồng thời làm phát sinh nhiều tội phạm khác. Vì vậy cần áp dụng hình phạt thật nghiêm khắc mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Đối với đối tượng tên Linh đã bán ma túy cho bị cáo T, hiện chưa rõ lai lịch, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tình tiết tăng nặng: Không có.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không cần bắt bị cáo phải chịu phạt tiền là hình phạt bổ sung.

Về xử lý vật chứng:

- 01 gói niêm phong ghi vụ số 1264 (bên ngoài có chữ ký của Giám định viên và Điều tra viên) bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định; 01 bao lì xì màu đỏ bị cáo T dùng để cất giấu 02 gói ma túy, cần tịch thu và tiêu hủy.

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu xanh bị cáo T sử dụng để liên lạc mua ma túy nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.

- 01 xe môtô hiệu Liberty, màu trắng, biển số 59M1 - 450.40 là phương tiện bị cáo sử dụng đi mua ma túy. Theo Kết luận giám định số 2403/KL-KTHS, ngày 15/3/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh xác định số khung, số máy của chiếc xe trên không thay đổi. Cơ quan điều tra xác minh được biết chiếc xe trên là do ông Nguyễn Văn K (Sinh năm: 1966 - Nơi đăng ký thường trú: Chung cư L, Phường 5, Quận 11) đứng tên chủ sở hữu. Qua xác minh tại Công an Phường 5, Quận 11 được biết hiện nay ông Nguyễn Văn K đã bán nhà đi khỏi địa phương, không rõ nơi cư trú. Chị Trần Thị Cẩm Gi (chị ruột bị cáo T) khai đã mua chiếc xe trên của ông K làm phương tiện đi lại. Việc mua bán xe giữa hai bên không làm giấy tờ thể hiện việc mua bán. Hội đồng xét xử nhận thấy ngoài lời khai của bị cáo và chị ruột là bà Gi, không có tài liệu, căn cứ pháp lý nào xác định chiếc xe này là tài sản thuộc sở hữu của bà Gi. Cơ quan điều tra Công an Quận 11 đã tiến hành đăng báo tìm chủ sở hữu nhưng đến nay chưa có ai đến liên hệ làm việc. Do đó, cần thông báo trong thời hạn 12 tháng để chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp (nếu có) đến nhận, quá thời hạn trên kể từ ngày Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành thông báo mà không có chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp liên hệ nhận thì tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 50; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017),

Tuyên bố bị cáo Trần Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Đức T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/02/2022.

Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017),

Tịch thu và tiêu hủy: 01 gói niêm phong ghi vụ số 1264 (bên ngoài có chữ ký của Giám định viên và Điều tra viên); 01 bao lì xì màu đỏ.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu xanh.

Thông báo trong thời hạn 12 tháng để chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp (nếu có) đến nhận đối với 01 xe môtô hiệu Liberty, màu trắng, mang biển số: 59M1 – 450.40; quá thời hạn trên kể từ ngày Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành thông báo mà không có chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp liên hệ nhận thì tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

(Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 11/LNK-MT ngày 24/02/2022 và Lệnh nhập kho vật chứng số 23/LNK-MT ngày 31/3/2022).

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo phải chịu là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015,

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án./.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

- TAND - VKSND TPHCM;

(Đã ký)

- Sở Tư pháp TPHCM;

- PC 27 - CA TPHCM;

- VKSND Q.11;

- Công an Q.11;

- Chi cục THADS Q.11;

- Những người tham gia tố tụng;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Nguyễn Thanh Phúc TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

–––––––––––––––

–––––––––––––––––––––––––––––––

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi 09 giờ 45 phút, ngày 12 tháng 7 năm 2022.

Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Phúc.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Ngọc Thảo;

Ông Nguyễn Thanh Tịnh.

Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 34/2022/TLST-HS ngày 18 tháng 5 năm 2022, đối với:

Bị cáo Trần Đức T; sinh năm: 1993, tại Thành phố Hồ Chí Minh;

Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH

CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:

1. Về điều luật áp dụng:

Căn cứ vào Điều 50; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017),

Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết thống nhất.

2. Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Trần Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết thống nhất.

3. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Trần Đức T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/02/2022.

Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết thống nhất.

4. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017),

Tịch thu và tiêu hủy: 01 gói niêm phong ghi vụ số 1264 (bên ngoài có chữ ký của Giám định viên và Điều tra viên); 01 bao lì xì màu đỏ.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu xanh.

Thông báo trong thời hạn 12 tháng để chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp (nếu có) đến nhận đối với 01 xe môtô hiệu Liberty, màu trắng, mang biển số: 59M1 – 450.40; quá thời hạn trên kể từ ngày Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành thông báo mà không có chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp liên hệ nhận thì tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

(Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 11/LNK-MT ngày 24/02/2022 và Lệnh nhập kho vật chứng số 23/LNK-MT ngày 31/3/2022).

Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết thống nhất.

5. Về án phí:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; các điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết thống nhất.

6. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.

Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết thống nhất.

Nghị án kết thúc vào hồi 10 giờ 10 phút, ngày 12 tháng 7 năm 2022.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.

Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thanh Phúc TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

–––––––––––––––

–––––––––––––––––––––––––––––––

Quận 11, ngày 12 tháng 7 năm 2022

Số:

/2022/HSST-QĐTG

QUYẾT ĐỊNH TẠM GIAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Phúc.

Các Hội thẩm nhân dân:

- Bà Nguyễn Ngọc Thảo;

- Ông Nguyễn Thanh Tịnh.

Căn cứ các điều 109, 113, 119 và 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ Biên bản nghị án ngày 12 tháng 7 năm 2022 của Hội đồng xét xử sơ thẩm;

Xét thấy cần thiết tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1

Tạm giam bị cáo: Trần Đức T, sinh năm 1993; nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: 416/18A đường Lạc Long Quân, Phường 5, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: 024 lô E, chung cư Lạc Long Quân, Phường 5, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).

Thời hạn tạm giam là 45 ngày (bốn mươi lăm ngày), kể từ ngày tuyên án.

Điều 2

Nhà tạm giữ Công an Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh có trách nhiệm thi hành Quyết định này.

Cỡ chữ