- Tranh chấp gì? án hình sự — "H ttmt - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 47/2022/HS-ST Ngày 25-5-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phạm Thị Bích Ngọc
Ông Nguyễn Trí
Thư ký phiên toà: Bà Đào Thị Linh - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thu Hoài - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 34/2022/TLST-HS ngày 21 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 113/2022/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:
Phạm Văn H, sinh năm 1986 tại Hải Phòng. Đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 34 cụm 5 Đ, quận N, Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn H và bà Đỗ Thị T; có vợ là Lê Huyền T (đã ly hôn) và 01 con; tiền án, tiền sự, nhân thân: 01 tiền án đã xóa: Tại bản án số 126 ngày 24/7/2014, Tòa án nhân dân quận Lê Chân xử 36 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích; bị tạm giữ ngày 16/11/2021; tạm giam ngày 23/11/2021; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 15/11/2021, tổ công tác Công an phường A phối hợp với Đoàn đặc nhiệm phòng chống tội phạm ma túy số 1 Bộ Tư lệnh Cảnh sát Biển trong khi làm nhiệm vụ tại khu vực đầu ngõ 401 L, quận L, Hải Phòng phát hiện Phạm Văn H có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, phát hiện thu giữ trong túi quần phụ bên phải của H có 01 túi nilon bên trong có chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy. Tổ công tác đã đưa H cùng vật chứng về trụ sở Công an phường A lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Ngoài ra, còn thu giữ của H 01 hộp màu trắng bên trong có chứa bộ sử dụng ma túy, 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO và 01 xe máy nhãn hiệu Airblade, biển kiểm soát 15B4-158.72.
Tại Kết luận giám định số 618/KLGĐ-MT ngày 18/11/2021 của Phòng Kĩ thuật hình sự - Công an TP Hải Phòng kết luận: Tinh thể màu trắng trong 01 túi nilon thu giữ của Phạm Văn H là ma túy, có khối lượng: 0,72 gam, là loại Methamphetamine.
Tại Cơ quan điều tra, Phạm Văn H khai: Khoảng 12 giờ 05 phút ngày 15/11/2021, H gọi điện cho một đối tượng tên D qua số điện thoại 0775379092 để hỏi mua ma túy nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. D hẹn H đến ngõ 380 Tô Hiệu giao dịch. Khoảng 13 giờ, H một mình điều khiển xe máy mang theo 01 hộp màu trắng đựng bộ dụng cụ sử dụng ma túy đến cuối ngõ 380 T gần hành lang đường sắt, gặp và mua của D 200.000 đồng ma túy đá. D nhận tiền rồi lấy trong túi xách đeo bên người ra 01 túi nilon màu trắng mép viền đỏ đựng ma túy đá đưa cho H. H cất túi ma túy này vào túi quần phụ phía trước bên phải đang mặc rồi đi tìm chỗ sử dụng. Khi đi đến đầu ngõ 401 L, H bị lực lượng công an kiểm tra, bắt giữ như nội dung nêu trên.
Bản Cáo trạng số 44/CT-VKS ngày 18/4/2022, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đã truy tố bị cáo Phạm Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Bản cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Phạm Văn H mức án từ 24 đến 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Bị cáo không có công việc thu nhập ổn định và không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 618MT/PC09, đựng vỏ bao gói và số ma túy còn lại sau giám định; 01 hộp nhựa màu trắng trong có 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá (01 cóong thủy tinh, 01 ống hút nhựa, 01 bình nhựa, 01 bật lửa); tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Lê Chân, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện là đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về căn cứ xác định tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, báo cáo bắt giữ của lực lượng công an, kết luận giám định, vật chứng thu giữ, tài liệu khác có trong hồ sơ thể hiện: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 15/11/2021 Phạm Văn H đã có hành vi cất giữ trái phép 0,72 gam ma túy, là loại Methamphetamin tại khu vực đầu ngõ 401 L, phường L, quận L, thành phố Hải Phòng với mục đích để sử dụng cho bản thân. Vì vậy đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân quận L, thành phố Hải Phòng đối với bị cáo Phạm Văn H về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng quy định của pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về chất gây nghiện, gây mất trật tự trị an xã hội. Bản thân bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, do vậy cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo có 01 tiền án đã được xóa án tích. Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình nên xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt bổ sung:
Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, bị cáo có thể bị phạt bổ sung là phạt tiền. Bị cáo không có công việc thu nhập ổn định và không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
Đối với số ma túy cùng toàn bộ vỏ bao bì còn lại sau giám định đã được niêm phong trong phong bì thư là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 hộp nhựa màu trắng trong có 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá (01 cóong thủy tinh, 01 ống hút nhựa, 01 bình nhựa, 01 bật lửa) hiện không còn giá trị sử dụng nên căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu, tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu Oppo màu xanh tím có số IMEI1: 869778040924772 và IMEI 2: 869778040924764 thu giữ của bị cáo, bị cáo dùng để liên lạc mua ma túy nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
- Về các vấn đề khác:
Đối với đối tượng tên D là người bán ma túy cho H, quá trình điều tra H khai: ngày 15/11/2021, H liên lạc với D qua số điện thoại 0775379092 để mua ma túy. Ngày 23/11/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân đã ra Lệnh thu giữ thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm số 84 đối với số thuê bao 0775379092. Kết quả thu giữ: chủ thuê bao là Tô Thị Kim D, sinh năm: 1972, địa chỉ: Số 02 Lô 9 khu tập thể L, tổ 38 phường H, quận L, Hải Phòng. Công an phường H cung cấp: Tô Thị Kim D vắng mặt tại địa phương từ năm 2015 đến nay, Dung đi đâu, làm gì chính quyền địa phương không nắm được. Do vậy, Cơ quan điều tra tách ra, tiếp tục xác minh, xử lý sau.
- Về án phí:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Phạm Văn H 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 16 tháng 11 năm 2021.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 618MT/PC09, đựng vỏ bao gói và số ma túy còn lại sau giám định; 01 hộp nhựa màu trắng trong có 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá (01 cóong thủy tinh, 01 ống hút nhựa, 01 bình nhựa, 01 bật lửa).
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu Oppo màu xanh tím có số IMEI1: 869778040924772 và IMEI 2: 869778040924764.
(Theo biên bản giao, nhận tài sản vật chứng ngày 19/4/2022 giữa Công an quận Lê Chân và Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ nhà nước.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7A và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; UBND nơi bị cáo cư trú; - VKSND thành phố; - VKSND quận Lê Chân; - Công an quận Lê Chân; - Phòng PV06; PC10; - THA hình sự; - Chi cục THADS quận Lê Chân; - Sở tư pháp; - Lưu: HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Hà |