- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Đức K - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 47/2022/HS-ST Ngày 23 - 8 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy Dương.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đặng Duy Niên.
Bà Phạm Thị Hải Yến.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim, Thư ký Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Huyền Trang, Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 48/2022/TLST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 50/2022/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 8 năm 2022, đối với bị cáo:
Phạm Đức K, sinh ngày 17 tháng 10 năm 1994 tại Thái Bình; nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; số căn cước công dân 034094007XXX; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn N và bà Phạm Thị N; có vợ là Ngô Thị Kim C (đã ly hôn); có 02 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ từ ngày 29 tháng 5 năm 2022 đến ngày 01 tháng 6 năm 2022 chuyển tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện V, tỉnh Thái Bình. (có mặt)
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị H - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Thái Bình. (có mặt)
- Người làm chứng:
1. Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1996; địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình. (vắng mặt)
2. Anh Nguyễn Thành L, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn K, xã S, huyện V, tỉnh Thái Bình. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 40 phút ngày 29 tháng 5 năm 2022 tại đoạn đường 220C thuộc thôn Thống Nhất, xã Hòa Bình, huyện V, tỉnh Thái Bình, tổ công tác Công an huyện V, tỉnh Thái Bình phát hiện Phạm Đức K đang ngồi bên lề đường có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy nên đã yêu cầu kiểm tra. Trước sự chứng kiến của anh Nguyễn Văn P và anh Nguyễn Thành L, tổ công tác thu giữ tại tay phải K đang cầm 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu “WarHouse” màu nâu bên trong có 01 gói được gói bằng giấy màu trắng, mở ra bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục. K khai nhận đó ma túy, K cùng bạn tên Tr mua mục đích để sử dụng. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng gửi giám định.
Tại cơ quan điều tra, Phạm Đức K khai nhận: Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 29 tháng 5 năm 2022, K cùng Tr (là bạn xã hội, K không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ) rủ nhau xuống huyện V, tỉnh Thái Bình mục đích mua ma túy về sử dụng. Khi đến đoạn đường trường PTTH Nguyễn Trãi thuộc thôn Thống Nhất, xã Hòa Bình, huyện V, tỉnh Thái Bình, Tr bảo K xuống xe đứng đợi còn Tr đi mua ma túy. Khoảng 10 phút sau Tr quay lại chỗ K đứng đợi, Tr kiểm tra trong 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu “WarHouse” màu nâu bên trong có ma túy thì thấy còn thiếu ma túy nên đưa K giữ 01 vỏ bao thuốc lá bên trong có ma túy và bảo K đứng đợi Tr đi lấy thêm ma túy. Khoảng 12 giờ 40 phút cùng ngày, khi K đang ngồi đợi bên lề đường thì bị tổ công tác Công an huyện V phát hiện bắt quả tang và thu giữ gói ma túy trên. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V, tỉnh Thái Bình ra Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Đức K. Qua khám xét, không thu giữ tài sản, đồ vật gì.
Tại Kết luận giám định số 180/KL-KTHS(MT) ngày 30 tháng 5 năm 2022, Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Mẫu vật gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,2706 gam (không phẩy hai nghìn bẩy trăm linh sáu gam). Heroine STT: 09 Danh mục I, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 và Nghị định 60/2020/NĐ-CP ngày 29 tháng 5 năm 2020 của Chính Phủ.
Cáo trạng số 53/CT-VKSVT ngày 01 tháng 8 năm 2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Thái Bình truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Thái Bình để xét xử đối với Phạm Đức K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo Phạm Đức K khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung bản cáo trạng đã nêu;
- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Đức K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Phạm Đức K mức án từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt, tạm giữ (ngày 29 tháng 5 năm 2022). Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy mẫu vật hoàn trả sau giám định được niêm phong trong 01 phong bì số 180/KL-KTHS(MT) của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Thái Bình và 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu “WarHouse” màu nâu, đã qua sử dụng. Bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Phạm Đức K đồng ý với tội danh Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Thái Bình đã truy tố và không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội của Kiểm sát viên.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo yên tâm cải tạo, sớm trở về gia đình, xã hội và trở thành một người công dân tốt.
Bị cáo Phạm Đức K nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Tại phiên tòa, Phạm Đức K khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng, kết luận giám định, lời khai người chứng kiến và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 12 giờ 40 phút ngày 29 tháng 5 năm 2022 tại trục đường 220C thuộc thôn Thống Nhất, xã Hòa Bình, huyện V, tỉnh Thái Bình, Phạm Đức K có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói ma túy, loại Heroine, khối lượng 0,2706 gam (không phẩy hai nghìn bẩy trăm linh sáu gam), mục đích sử dụng cho bản thân. Theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:…; c) Heroine, Cocaine, Heroine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; …”. Hành vi của Phạm Đức K đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[3] Đánh giá về tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định về quản lý chất gây nghiện của nhà nước. Ma túy không những gây tác hại cho sức khỏe, phá hoại hạnh phúc của bao gia đình mà còn là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội khác, ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự trị an xã hội. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức đầy đủ về tính chất nguy hiểm cũng như hậu quả của hành vi do mình thực hiện, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện tội phạm.
[4] Đánh giá về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, thấy: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng mức hình phạt nghiêm minh, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để cải tạo, giáo dục bị cáo và góp phần đấu tranh phòng ngừa chung.
[6] Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy, bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân, bị cáo không có nghề nghiệp và không có thu nhập ổn định, do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng: Theo quy định điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Số ma túy thu giữ trong vụ án được hoàn trả sau giám định là vật thuộc loại nhà nước cấm tàng trữ, 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu “WarHouse” màu nâu thu giữ trong vụ án có liên quan đến tội phạm, cần tịch thu tiêu hủy.
[8] Về vấn đề khác: Đối với người nam giới tên Tr, theo Phạm Đức K khai là người đã mua ma túy và đưa cho K cầm để sử dụng, tuy nhiên, K không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ, không nhớ đặc điểm nhận dạng của Tr, không có cách thức nào liên lạc với Tr, K cũng không biết nơi Tr mua ma túy và không biết người bán ma túy là ai nên cơ quan điều tra không có căn cứ điều tra, xử lý.
[9] Về án phí: Bị cáo Phạm Đức K phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, tuy nhiên, bị cáo K thuộc diện hộ cận nghèo và đã có đơn xin miễn nộp án phí, do đó, bị cáo được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10] Bị cáo Phạm Đức K có quyền kháng cáo đối với bản án trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Đức K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Đức K 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt, tạm giữ (ngày 29 tháng 5 năm 2022).
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử: Tịch thu tiêu hủy số ma túy hoàn trả sau giám định được niêm phong trong 01 phong bì số 180/KL-KTHS(MT) của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Thái Bình và tịch thu tiêu hủy 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu “WarHouse” màu nâu, đã qua sử dụng. (Toàn bộ vật chứng đã được chuyển đến Cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện V, tỉnh Thái Bình vào ngày 08 tháng 8 năm 2022).
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, các Điều 12, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Phạm Đức K được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo Phạm Đức K có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 23 tháng 8 năm 2022).
6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:
| - Bị cáo; - Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Thái Bình; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình; - Cơ quan Cảnh sát điều tra và Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện V, tỉnh Thái Bình; - Cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện V, tỉnh Thái Bình; - Nhà tạm giữ/Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình; - Lưu: Hồ sơ vụ án. HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thùy Dương HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thùy Dương |