vanban.org

Bản án 47/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 18/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Đào Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Đào Văn Th 24 ( hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 31/3/2022. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đào Văn Thi - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đào Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ LƯƠNG
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2022/HS-ST
Ngày 18-7-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Thanh Tùng;

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Ngọc Ngư;

Ông Nguyễn Văn Thuyết;

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Lương Dương Tùng Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 7 năm 2022, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 52/2022/TLST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2022/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2022, đối với bị cáo:

Họ và tên: Đào Văn Th, sinh ngày 14 tháng 3 năm 1989, tỉnh Thái Nguyên; tên gọi khác: Không; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: xóm CT, xã PL, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Tày; giới t nh: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Văn T, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1958; có vợ là Lò Thị Hương, sinh năm 1995 và 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2018;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/3/2022 hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên; (có mặt).

- Người chứng kiến: Ông Hoàng Đình Nh, sinh năm 1968;

Địa chỉ: xóm KT, xã HT, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên; (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 13 giờ 10 phút ngày 31/3/2022, tổ công tác của Công an xã HT, huyện Phú Lương làm nhiệm vụ tại xóm KT, xã HT, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, phát hiện Đào Văn Th có biểu hiện nghi liên quan đến ma túy nên đã tiến hành kiểm tra hành ch nh đối với Đào Văn Th. Tổ công tác yêu cầu Th có gì liên quan đến ma túy thì tự giác giao nộp. Th tự giác giao nộp 01 bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long đang để trong túi áo khoác bên trái, bên trong có 01 gói chất bột màu trắng được gói bên ngoài bằng lớp giấy bạc màu vàng (Th khai là ma túy loại heroine, tàng trữ để sử dụng). Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Đào Văn Th và niêm phong vật chứng theo quy định. Hồi 17 giờ cùng ngày, Công an xã HT đã bàn giao hồ sơ, tang vật cùng đối tượng đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Lương để tiếp tục điều tra theo thẩm quyền.

Cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Lương đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đào Văn Th tại xóm CT, xã PL, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Kết quả: Không phát hiện thu giữ gì.

Hồi 20 giờ 40 phút cùng ngày, tại Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng đối với 01 gói chất bột màu trắng thu giữ của Đào Văn Th trong bì niêm phong ký hiệu T có khối lượng 0,176 gam đã trừ bì. Lấy toàn bộ mẫu gửi giám định chất ma túy (ký hiệu bì A1).

Tại bản kết luận giám định số 558/KL-KTHS ngày 07/4/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Chất bột màu trắng trong bì niêm phong kí hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 0,176 gam.

Quá trình điều tra Đào Văn Th khai nhận: Bản thân Th là người nghiện ma túy, khoảng 12 giờ 30 phút ngày 31/3/2022, Th đi bộ từ nhà tại xóm CT, xã PL, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đi ra đường tỉnh lộ 236 rồi sau đó đi nhờ xe của một người đi đường không quen biết để đi ra khu vực xã HT, huyện Phú Lương mục đ ch để tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân, khi đi đến khu vực Trạm y tế xã HT thì Th xuống xe đi bộ ở đường. Tại đây, Th gặp và mua của một người đàn ông khoảng 40 tuổi (Th không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) 01 gói ma túy Heroine với giá 300.000 đồng, mua xong Th cất vào tùi áo khoác bên trái rồi đi bộ về đến xóm KT, xã HT, huyện Phú Lương thì bị công an xã HT phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng như nêu trên.

Tại cơ quan điều tra, Đào Văn Th đã khai nhận hành vi phạm tội của mình . Lời khai của bị cáo là phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định chất ma túy, lời khai người chứng kiến và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số 56/CT-VKSPL ngày 24/6/2022, Viện Kiểm sát nhân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Đào Văn Th về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố như trong Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đào Văn Th phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt Đào Văn Th từ 24 đến 30 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Tại phần tranh luận: Bị cáo nhất trí với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử cho hưởng sự khoan hồng của pháp luật, cho bị cáo hưởng mức hình phạt thấp nhất để sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Thái Nguyên, Công an huyện Phú Lương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng tại phiên tòa ông Hoàng Đình Nh là người chứng kiến trong vụ án: Tòa án đã gửi giấy triệu tập tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng người chứng kiến vắng mặt. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến về sự vắng mặt của người chứng kiến, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên đề nghị xét xử vắng mặt người chứng kiến. Quá trình điều tra, người chứng kiến không có khiếu nại gì đối với quyết định, hành vi của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng liên quan đến việc mình tham gia chứng kiến nên việc vắng mặt họ tại phiên tòa không gây trở ngại cho việc xét xử. Việc Tòa án xét xử vắng mặt người chứng kiến không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người chứng kiến ông Hoàng Đình Nh theo quy định.

Xét hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, như vậy có đủ căn cứ để xác định: Hồi 13 giờ 10 phút ngày 31/3/2022, tại xóm KT, xã HT, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, Đào Văn Th có hành vi tàng trữ trái phép 0,176 gam ma túy loại Heroine, mục đ ch để sử dụng cho bản thân, thì bị Công an xã HT, huyện Phú Lương phát hiện, bắt quả tang.

Hành vi nêu trên của bị cáo Đào Văn Th đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Điều luật quy định:

1. “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

a, …

c, Heroine …có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”

Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Đào Văn Th về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Xét tính chất của vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến ch nh sách độc quyền quản lý về ma túy của Nhà nước, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương.

Như chúng ta đã biết, tệ nạn ma tuý đang là điều nhức nhối của toàn xã hội. Đảng và nhà nước đã có nhiều biện pháp đấu tranh, nhằm xoá bỏ tệ nạn ma tuý ra khỏi cộng đồng. Chính nó là nguyên nhân làm cho diễn biến tệ nạn ngày một phát triển, làm băng hoại đạo đức lối sống của cộng đồng và là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác. Bị cáo nhận thức rõ về điều đó nhưng vẫn cố tình tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân. Để giữ nghiêm kỷ cương phép nước, có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung thì việc đưa bị cáo Đào Văn Th ra truy tố và xét xử là cần Thết để giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

Bị cáo là người đã có gia đình ổn định, nhưng với lối sống tự do buông thả, với thái độ bất chấp kỷ cương, coi thường chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Vì vậy khi lượng hình cần phải buộc bị cáo chịu mức hình phạt tương xứng. Có như vậy bị cáo mới thấy hết được lỗi lầm của mình có hướng sửa để trở thành công dân tốt. Song khi lượng hình cũng cần xem xét đến nhân thân các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo là người nghiện chất ma túy.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt: Xét các yếu tố về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, thể hiện ý thức coi thường pháp luật nên cần có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, buộc cách ly xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung, xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng. Hành vi của bị cáo là tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân, không có mục đ ch thu lời bất chính nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Cần tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định thuộc danh mục chất gây nghiện, Nhà nước cấm sử dụng, lưu hành, mua bán; các vỏ phong bì niêm phong và giấy gói không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Về nguồn gốc số ma túy bị cáo khai mua của một người đàn ông khoảng 40 tuổi ở khu vực xóm KT, xã HT, huyện Phú Lương. Do Th không biết rõ họ tên, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Lương không có cơ sở để điều tra làm rõ.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt và các vấn đề khác là phù hợp, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Điều 106; Điều 136; Điều 329, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ ph năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Đào Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1. Xử phạt: Bị cáo Đào Văn Th 24 ( hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 31/3/2022.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo Th hành án.

2. Về vật chứng:

* Tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A1, bên ngoài ghi: Hoàn trả 0,153 gam mẫu A1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói còn lại sau giám định;

- 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A2, bên ngoài ghi: Bên trong có 01 vỏ bì ký hiệu T, 01 vỏ bao thuốc lá thăng long, vỏ giấy gói.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận số 73/2022 ngày 13/7/2022 giữa Công an huyện Phú Lương và Chi cục Th hành án dân sự huyện Phú Lương).

3. Về án phí: Buộc bị cáo Đào Văn Th phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ