- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc S 15 (Mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM THAO TỈNH PHÚ THỌ ___________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 47/2022/HS-ST Ngày 30 tháng 8 năm 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM THAO, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Việt Giang.
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hà Thanh Phong.
2. Bà Nguyễn Thị Thùy Linh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Trọng Tú - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao tham gia phiên tòa: Bà Trần Lại Khánh Chi - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 44/HSST ngày 07 tháng 7 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2022/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 8 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 23/2022/HSST-QĐ ngày 15 tháng 8 năm 2022 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Ngọc S - Sinh ngày 13/7/1980; Gới tính: Nam; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: khu 15, xã S, huyện L, tỉnh Phú Thọ; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Văn hoá: 12/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Nguyễn Văn T - đã chết; Mẹ đẻ: Bùi Thị N - Sinh năm: 1956; trú tại: khu 15, xã S, huyện L, tỉnh Phú Thọ; Anh chị em ruột: có 4 chị em, bị cáo là thứ 2; Vợ: Nguyễn Thị T - Sinh năm: 1979; Con: có 02 con, con lớn sinh năm 2004; con nhỏ sinh năm 2008; đều trú tại: khu 15, xã S, huyện L, tỉnh Phú Thọ.
Tiền án - Tiền sự: không;
Lịch sử bản thân: Bản án số 26/2010/HSST ngày 29/6/2010 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xử phạt Nguyễn Ngọc S 06 tháng Cải tạo không giam giữ về hành vi Đánh bạc. Qua xác minh thi hành án, S đã thi hành xong: hình phạt bổ sung ngày 11/8/2010, án phí hình sự sơ thẩm ngày 18/8/2010. Đã được đương nhiên xóa án tích.
Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam, hiện đang tại ngoại tại nơi cư trú.
2. Họ và tên: Lương Văn C - sinh ngày 25/9/1986; Giới tính: Nam; Hộ khẩu thường trú: khu 2, xã H, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; Chỗ ở: khu 4, xã H, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Văn hoá: 12/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Lương Văn P - sinh năm: 1956; Mẹ đẻ: Đào Thị N - sinh năm: 1958; Bố, mẹ đều ở khu 4, xã H, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; Anh chị em ruột: có 3 chị em, bị cáo là thứ 3; Vợ: Lê Thị Thanh H - sinh năm 1989; Con: có 03 con, con lớn sinh năm 2011; con nhỏ sinh năm 2022; Vợ, con đều ở khu 4, xã H, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
Tiền án, tiền sự: không.
Lịch sử bản thân:
- Bản án số 65/2006/HSST ngày 26/5/2006 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xử phạt Lương Văn C 18 tháng Cải tạo không giam giữ được khấu trừ thời gian đã tạm giam quy đổi bằng 4 tháng 24 ngày Cải tạo không giam giữ về tội Gây rối trật tự công cộng. Qua xác minh thi hành án, Lương Văn C đã thi hành xong khoản tiền án phí hình sự sơ thẩm tháng 11/2006. Đã được đương nhiên xóa án tích.
- Bản án số 71/2008/HSST ngày 29/12/2008 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao xử phạt Lương Văn C 21 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Qua xác minh thi hành án, Lương Văn C đã thi hành xong khoản tiền án phí hình sự sơ thẩm ngày 26/5/2009. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/12/2009. Đã được đương nhiên xóa án tích.
Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam, hiện đang tại ngoại tại nơi cư trú.
3. Họ và tên: Cao Duy H - sinh ngày 02/6/1986; Giới tính: Nam; Hộ khẩu thường trú: Khu 12, xã C, huyện L, tỉnh Phú Thọ; Chỗ ở: Khu 18, xã S, huyện L, tỉnh Phú Thọ; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Văn hoá: 12/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Cao Kim T (đã chết); Mẹ đẻ: Nguyễn Thị S -sinh năm: 1949, hiện trú tại khu 12, xã C, huyện L, tỉnh Phú Thọ; Anh chị em ruột: có 7 chị em, bị cáo là thứ 6; Vợ: Nguyễn Thị H - sinh năm: 1988, nghề nghiệp: LĐTD; Con: có 02 con, con lớn sinh năm 2016; con nhỏ sinh năm 2019; Vợ, con đều trú tại khu 18, xã S, huyện L, tỉnh Phú Thọ
Tiền án - Tiền sự: không;
Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam, hiện đang tại ngoại tại nơi cư trú.
(Các bị cáo có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 10 giờ 45 phút ngày 12/04/2022, Phòng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh Phú Thọ phối hợp với Công an huyện Lâm Thao và chính quyền địa phương xã S, huyện L, tỉnh Phú Thọ tiến hành kiểm tra khu lán trại của Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1980 tại khu 14, xã S, huyện L, tỉnh Phú Thọ phát hiện có khoảng 20 người đang tập trung xung quanh 01 quây gà, trong quây gà có 01 cặp gà đang đá chọi với nhau. Khi thấy lực lượng công an đến kiểm tra, một số người đã bỏ chạy. Phòng Cảnh sát hình đã yêu cầu 17 người có mặt tại sới về trụ sở Cơ quan điều tra để xác minh làm rõ. Quá trình lập biên bản sự việc, Cơ quan điều tra xác định: Nguyễn Ngọc S là chủ sới gà đứng ra tổ chức cho Cao Duy H sinh năm 1986, trú tại: khu 12, xã C, huyện L, tỉnh Phú Thọ với 01 người tên là C nhà ở xã H, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (người này đã bỏ chạy trong quá trình bị Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra) và đã tạm giữ: 02 con gà trống chọi gồm: 01 con gà trống chọi màu ô đen; 01 con gà trống chọi lông màu xám trắng. Cả hai con gà đều có trọng lượng 3,1kg; Tiến hành khám xét khẩn cấp tại địa điểm lán trại của Sâm, Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 đồng hồ treo tường, hình tròn có chữ “Quang Phát” và 01 cân đồng hồ sơn màu xanh loại 5kg.
Quá trình điều tra, đã làm rõ hành vi đánh bạc của các đối tượng như sau:
Do không có công việc ổn định và đam mê đá gà chọi cho nên Nguyễn Ngọc S lợi dụng địa hình trang trại của mình nằm ở khu vực đồi cây giáp khu nghĩa trang. S đã dựng 01 lán khung sắt và mua các dụng cụ để đứng ra mở sới gà chọi cho các con bạc đến đá gà sát phạt bằng tiền. Để tránh sự phát hiện của cơ quan chức năng S không thu tiền “phế” (tức tiền phí để vào sới gà) của những người đến xem và cá cược, chỉ thu tiền “quây” (tức tiền để được đá gà) của 2 chủ gà chọi. Tùy theo giá trị cá cược của từng trận mà các chủ gà cá cược với nhau, S sẽ đưa ra mức thu tiền “quây” là bao nhiêu và thu theo tỷ lệ 60 - 40, tức là chủ gà nào thắng nộp cho S 60% giá trị tiền thu quây, chủ gà nào thua nộp cho S 40% giá trị tiền thu quây còn lại. Thống nhất các chủ gà sẽ nộp tiền “quây” cho S sau khi trận đá gà kết thúc.
Khoảng 9 giờ ngày 12/04/2022, Cao Duy H, sinh năm 1986 thường trú ở khu 12, xã C, huyện L, tỉnh Phú Thọ, hiện ở khu 18, xã S, huyện L, tỉnh Phú Thọ mang theo 01 con gà trống chọi lông màu đen, có cân nặng 3,1kg đến sới gà của S với mục đích để đá gà cá cược ăn tiền. Tại sới gà, S đã tổ chức cho gà của H đá gà ăn tiền với gà trống chọi lông màu xám, có cân nặng 3,1kg của Lương Văn C, sinh năm 1986 thường trú ở khu 2 xã H, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; hiện ở khu 4 xã H. H và C thống nhất việc cá cược với nhau, mỗi bên đặt cược 5.000.000đ, tức là bên nào thua phải trả cho bên thắng số tiền là 5.000.000đ/trận. Việc phân định thắng thua được xác đinh khi gà đá hết trận, mỗi trận có nhiều hồ, mỗi hồ là 20 phút, sau một hồ gà được nghỉ 5 phút. Kết thúc trận đá gà nếu gà bên nào bỏ chạy là bên đó thua và mất toàn bộ số tiền đã đặt cược là 5.000.000đ. Tiền sẽ được thanh toán sau khi trận đá gà kết thúc. Sau khi H và C thống nhất việc cá cược xong thì S thống nhất với H và C về việc phải nộp tiền phế gà (tiền quây) cho S số tiền 1.000.000đ theo tỷ lệ chủ gà nào thắng nộp cho S 600.000đ, chủ gà nào thua nộp cho S 400.000đ và thanh toán cho nhau sau khi trận đá gà kết thúc, có thể thanh toán bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản. Khi đi đến sới gà, H mang theo số tiền là 1.600.000đ, C mang theo số tiền 2.600.000đ còn lại tiền để trong tài khoản ngân hàng. C và H thống nhất sẽ trả thanh toán đủ số tiền cá cược là 5.000.000đ và tiền quây sau khi trận đá gà kết thúc.
Khi Nguyễn Ngọc S đang tổ chức cho cặp gà của Cao Duy H và Lương Văn C đá với nhau thì cơ quan Công an kiểm tra và lập Biên bản sự việc như đã nêu trên. Do chưa phân định thắng, thua nên các đối tượng chưa thanh toán tiền với nhau. Quá trình điều tra, S còn tự khai nhận, trong trận đá gà của H và C, bản thân S cũng tham gia cá cược ăn tiền với một người tên là Thành với số tiền đặt cược là 5.000.000đ/trận. Tuy nhiên, S không biết tên tuổi địa chỉ cụ thể của người có tên là Thành. Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Như vậy, với cách thức cá cược đá gà thắng thua bằng tiền như đã nêu trên thì số tiền Cao Duy H đã dùng vào việc đánh bạc với Lương Văn C trong trận đá gà giữa con gà trống chọi lông màu đen của H và con gà trống chọi lông màu xám của C là 5.000.000đ. Do đó, H phải chịu trách nhiệm với số tiền dùng vào việc đánh bạc là 5.000.000đ và C phải chịu trách nhiệm với số tiền dùng vào việc đánh bạc là 5.000.000đ.
Tại bản Cáo trạng số 26/CT-VKSPT-P2 ngày 06/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ truy tố các bị cáo Nguyễn Ngọc S, Lương Văn C, Cao Duy H phạm tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi năm 2017.
Tại phiên tòa hôm nay đại diện Kiểm sát viên nhân dân huyện Lâm Thao vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Ngọc S, Lương Văn C phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc S từ 15 đến 18 tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày UBND xã S, huyện L, tỉnh Phú Thọ nhận được quyết định Thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo cho UBND xã S, huyện L, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã S, huyện L, tỉnh Phú Thọ trong việc giám sát giáo dục bị cáo.
Xử phạt: Bị cáo Lương Văn C từ 18 đến 21 tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày UBND xã H, thành phố V, tỉnh Phú Thọ nhận được quyết định Thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo cho UBND xã H, thành phố V, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã H, thành phố V, tỉnh Phú Thọ trong việc giám sát giáo dục bị cáo.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Cao Duy H phạm tội “Đánh bạc”.
Bị cáo Cao Duy H từ 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày UBND xã C, huyện L, tỉnh Phú Thọ nhận được quyết định Thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo cho UBND xã C, huyện L, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã C, huyện L, tỉnh Phú Thọ trong việc giám sát giáo dục bị cáo
Miễn khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo Nguyễn Ngọc S, Lương Văn C, Cao Duy H.
Buộc các bị cáo Nguyễn Ngọc S, Lương Văn C, Cao Duy H phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần.
Các bị cáo Nguyễn Ngọc S, Lương Văn C, Cao Duy H phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Nguyễn Ngọc S, Lương Văn C, Cao Duy H.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- Xác nhận 02 con gà chọi đã bị tạm giữ khi lập Biên bản sự việc. Cơ quan điều tra có Công văn gửi Chi cục chăn nuôi và thú y tỉnh Phú Thọ đề nghị chăm sóc, nuôi nhốt hộ trong quá trình điều tra. Tuy nhiên, Chi cục chăn nuôi và thú y tỉnh Phú Thọ đã từ chối với lý do không đủ chuồng trại để nuôi nhốt. Quá trình nuôi giữ tại Cơ quan điều tra, số gà trên đã chết tự nhiên, Cơ quan điều tra đã tiêu hủy số gà trên bằng biện pháp chôn để tránh lây lan dịch bệnh và có biên bản xác định tình trạng vật chứng theo đúng quy định.
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01đồng hồ treo tường, hình tròn có chữ "Quang Phát"; 01 cân đồng hồ sơn màu xanh loại 5kg.
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 11.000.000đ (Mười một triệu đồng)
(Vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lâm Thao theo Quyết định chuyển vật chứng số 26/QĐ-VKSPT-P2 ngày 06/7/2022 của VKSND tỉnh Phú Thọ).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Nguyễn Ngọc S, Lương Văn C, Cao Duy H mỗi người phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi đúng như cáo trạng truy tố, các bị cáo không tranh luận gì. Các bị cáo nói lời sau cùng: Mong Hội đồng xét xử, xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Phú Thọ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về những chứng cứ xác định có tội hoặc không có tội: Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được kiểm chứng tại phiên tòa như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng vụ án. Do đó có đủ cơ sở khẳng định: Ngày 12/4/2022, tại trang trại gà của Nguyễn Ngọc S ở khu 14, xã S, huyện L, tỉnh Phú Thọ, S đã thực hiện hành vi tổ chức cho 01 con gà trống chọi lông màu đen, nặng 3,1kg của Cao Duy H với 01 con gà trống chọi lông màu xám, nặng 3,1kg của Lương Văn C đá gà và cá cược số tiền 5.000.000đ/trận với nhau, để S thu tiền “quây” là 1.000.000đ. Khi gà đá đến hồ thứ 2, chưa phân định thắng thua thì bị lực lượng công an vào kiểm tra lập biên bản sự việc và thu giữ vật chứng. Số tiền dùng vào việc đánh bạc của H và C là 5.000.000đ.
Đối với hành vi dựng lán trại mở sới gà để cho các con bạc đến đá gà sát phạt nhau bằng tiền và việc cân gà, ghép gà của H đá gà ăn tiền với gà của C để thu tiền “quây” gà của Nguyễn Ngọc S là hành vi tổ chức đánh bạc, gá bạc nhưng chưa đến mức với quy mô lớn, số tiền dùng vào việc đánh bạc có giá trị từ 2.000.000đ đến dưới 50.000.000đ nên không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc” nhưng phải chịu trách nhiệm hình sự về đồng phạm tội “Đánh bạc” với vai trò giúp sức.
Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của các bị cáo thực hiện với lỗi cố ý. Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, các bị cáo biết rõ hành vi đánh bạc bằng hình thức “đá gà” được thua bằng tiền là hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an xã hội, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác nhưng các bị cáo cố tình làm ngơ bất chấp pháp luật mục đích là thu lời bất chính thông qua việc đánh bạc.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Nguyễn Ngọc S, Lương Văn C, Cao Duy H không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Ngọc S, Lương Văn C, Cao Duy H đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Cao Duy H phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có bố đẻ là Cao Kim T được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng ba và mẹ là Nguyễn Thị S được Nhà nước tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất nên bị cáo H được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự qui định tại điểm i khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Lương Văn C tự nguyện ra đầu thú, bị cáo có bố đẻ là Lương Văn P được Nhà nước tặng Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng ba và Huy chương kháng chiến hạng nhì nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự qui định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Nguyễn Ngọc S có bố đẻ là ông Nguyễn Văn T là thương binh loại 1 hạng 6/8 nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự qui định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Sau khi xem xét nhân thân, tích chất mức độ thực hiện hành vi phạm tội cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy đối với bị cáo Cao Duy H có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, phạm tội lần đầu và có nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy chỉ cần xử phạt bị cáo Cao Duy H một hình phạt cải tạo không giam giữ dưới sự giám sát của chính quyền địa phương và gia đình cũng đủ để giáo dục bị cáo cải tạo trở thành công dân tốt có ích cho gia đình cho xã hội, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật nhà nước ta.
Đối với bị cáo Nguyễn Ngọc S là người có nhân thân xấu tại bản án số: 26/2010/HSST ngày 29/6/2010 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xử phạt Nguyễn Ngọc S 06 tháng cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc. Mặc dù đến lần phạm tội này bị cáo S đã được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà lần này lại tiếp tục phạm tội. Trong vụ án bị cáo là đồng phạm với vai trò giúp sức, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, vì vậy chỉ cần xử phạt bị cáo S một hình phạt cải tạo không giam giữ dưới sự giám sát của chính quyền địa phương và gia đình cũng đủ để giáo dục bị cáo cải tạo trở thành công dân tốt có ích cho gia đình cho xã hội, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật nhà nước ta.
Đối với bị cáo Lương Văn C là người có nhân thân xấu tại bản án số: 65/2006/HSST ngày 26/5/2006 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xử phạt Lương Văn C 18 tháng Cải tạo không giam giữ được khấu trừ thời gian đã tạm giam quy đổi bằng 4 tháng 24 ngày Cải tạo không giam giữ về tội "Gây rối trật tự công cộng". Tại Bản án số: 71/2008/HSST ngày 29/12/2008 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao xử phạt Lương Văn C 21 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Mặc dù đến lần phạm tội này bị cáo đã được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà lần này lại tiếp tục phạm tội. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng vì vậy chỉ cần xử phạt bị cáo C một hình phạt cải tạo không giam giữ dưới sự giám sát của chính quyền địa phương và gia đình cũng đủ để giáo dục bị cáo cải tạo trở thành công dân tốt có ích cho gia đình cho xã hội, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật nhà nước ta.
Theo quy định tại khoản 3 Điều 36 Bộ luật hình sự năm 2015 thì trong thời gian chấp hành án, người bị kết án phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các qui định về cải tạo không giam giữ và bị khấu trừ một phần thu nhập từ 5% đến 20% để sung công quỹ nhà nước. Xét thấy các bị cáo Nguyễn Ngọc S, Lương Văn C, Cao Duy H nghề nghiệp không ổn định, thu nhập thấp vì vậy cần miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ.
Theo qui định tại khoản 4 thì người bị phạt cải tạo không giam giữ không có việc làm hoặc mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Hội đồng xét xử xét thấy cần buộc bị cáo Nguyễn Ngọc S, Lương Văn C, Cao Duy H phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 điều 321 Bộ luật Hình sự thì các bị cáo có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến năm mươi triệu đồng. Các bị cáo Nguyễn Ngọc S, Lương Văn C, Cao Duy H đều không có tài sản riêng, bản thân các bị cáo là lao động tự do, thu nhập thấp và không ổn định. Vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Nguyễn Ngọc S, Lương Văn C, Cao Duy H là phù hợp.
Về vật chứng vụ án:
Đối với: 02 con gà chọi đã bị tạm giữ khi lập Biên bản sự việc. Cơ quan điều tra có Công văn gửi Chi cục chăn nuôi và thú y tỉnh Phú Thọ đề nghị chăm sóc, nuôi nhốt hộ trong quá trình điều tra. Tuy nhiên, Chi cục chăn nuôi và thú y tỉnh Phú Thọ đã từ chối với lý do không đủ chuồng trại để nuôi nhốt. Quá trình nuôi giữ tại Cơ quan điều tra, số gà trên đã chết tự nhiên, Cơ quan điều tra đã tiêu hủy số gà trên bằng biện pháp chôn để tránh lây lan dịch bệnh và có biên bản xác định tình trạng vật chứng theo đúng quy định vì vậy cần xác nhận là phù hợp.
Đối với: 01đồng hồ treo tường, hình tròn có chữ "Quang Phát" (đồng hồ đã cũ, đã qua sử dụng); 01 cân đồng hồ sơn màu xanh loại 5kg (cân đã cũ, đã qua sử dụng); Đây là công cụ các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước là phù hợp.
Đối với: Số tiền 11.000.000đ (Mười một triệu đồng) đây là số tiền của các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc vì vậy cần tịch thu xung quỹ nhà nước là phù hợp.
Các vấn đề khác:
- Đối với hành vi cá cược ăn tiền của Nguyễn Ngọc S với một người tên là Thành. Khi Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra sới gà của S thì T đã bỏ chạy, S không biết tên tuổi địa chỉ của Thành nên Cơ quan điều tra không xác định được Thành. Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.
- Đối với 15 đối tượng có mặt tại sới ngày 12/4/2022, Cơ quan điều tra xác định 15 người này đến sới xem đá gà, không tham gia đánh bạc. Do vậy, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Ngọc S, Lương Văn C, Cao Duy H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao đề nghị về hình phạt đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Ngọc S, Lương Văn C phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc S 15 (Mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày UBND xã S, huyện L, tỉnh Phú Thọ nhận được quyết định Thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo cho UBND xã S, huyện L, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã S, huyện L, tỉnh Phú Thọ trong việc giám sát giáo dục bị cáo.
Xử phạt: Bị cáo Lương Văn C 18 (Mười tám) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày UBND xã H, thành phố V, tỉnh Phú Thọ nhận được quyết định Thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo cho UBND xã H, thành phố V, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã H, thành phố V, tỉnh Phú Thọ trong việc giám sát giáo dục bị cáo.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Cao Duy H phạm tội “Đánh bạc”.
Bị cáo Cao Duy H 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày UBND xã C, huyện L, tỉnh Phú Thọ nhận được quyết định Thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo cho UBND xã C, huyện L, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã C, huyện L, tỉnh Phú Thọ trong việc giám sát giáo dục bị cáo
Miễn khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo Nguyễn Ngọc S, Lương Văn C, Cao Duy H.
Buộc các bị cáo Nguyễn Ngọc S, Lương Văn C, Cao Duy H phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần.
Các bị cáo Nguyễn Ngọc S, Lương Văn C, Cao Duy H phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Nguyễn Ngọc S, Lương Văn C, Cao Duy H.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- Xác nhận: 02 con gà chọi đã bị tạm giữ khi lập Biên bản sự việc. Cơ quan điều tra có Công văn gửi Chi cục chăn nuôi và thú y tỉnh Phú Thọ đề nghị chăm sóc, nuôi nhốt hộ trong quá trình điều tra. Tuy nhiên, Chi cục chăn nuôi và thú y tỉnh Phú Thọ đã từ chối với lý do không đủ chuồng trại để nuôi nhốt. Quá trình nuôi giữ tại Cơ quan điều tra, số gà trên đã chết tự nhiên, Cơ quan điều tra đã tiêu hủy số gà trên bằng biện pháp chôn để tránh lây lan dịch bệnh và có biên bản xác định tình trạng vật chứng theo đúng quy định.
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01đồng hồ treo tường, hình tròn có chữ "Quang Phát" (đồng hồ đã cũ, đã qua sử dụng); 01 cân đồng hồ sơn màu xanh loại 5kg (cân đã cũ, đã qua sử dụng).
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 11.000.000đ (Mười một triệu đồng)
(Vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lâm Thao theo Quyết định chuyển vật chứng số 26/QĐ-VKSPT-P2 ngày 06/7/2022 của VKSND tỉnh Phú Thọ).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Nguyễn Ngọc S, Lương Văn C, Cao Duy H mỗi người phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Phú Thọ; - VKSND huyện Lâm Thao; - Công an huyện Lâm Thao; - Cơ quan THAHS- CA huyện Lâm Thao; - Cơ quan THADS huyện Lâm Thao; - Sở Tư pháp tỉnh Phú Thọ; - UBND xã S; - UBND xã C; - UBND xã H, TP V, tỉnh Phú Thọ; - Các bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu HS+VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đinh Việt Giang |