vanban.org

Bản án 47/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang Tuyên án 15/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Seo Văn B, Chẩu Văn T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt Seo Văn B 01 (một) năm 01 (một) tháng tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Seo Văn B, Chẩu Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Seo Văn B, Chẩu Văn T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHIÊM HÓA
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2022/HS-ST
Ngày 15/7/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị Bích Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông: Nguyễn Xuân Tuyến.

2. Bà: Tưởng Thị Thu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bàn Thị Bích Duyên, Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Duy Luận, Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 34/2022/TLST-HS ngày 31/5/2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2022/QĐXXST-HS ngày 01/7/2022 đối với các bị cáo:

Seo Văn B, tên gọi khác: Không; sinh ngày 15 tháng 02 năm 1994 tại huyện C, tỉnh Tuyên Quang.

Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn N, xã T, huyện C, tỉnh Tuyên Quang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: Lớp 07/12; Con ông Seo Văn B1, sinh năm 1972 và bà Hoàng Thị L, sinh năm 1974; Anh, chị, em ruột: Có 02 anh em, bị cáo là nhất; Vợ, con: chưa có; Đảng, đoàn thể: Không.

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/02/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang (có mặt tại phiên tòa).

Chẩu Văn T1, tên gọi khác: Không; sinh ngày 14 tháng 10 năm 1997, tại huyện C, tỉnh Tuyên Quang.

Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn C1, xã H, huyện C, tỉnh Tuyên Quang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: Lớp 01/12; con ông Chẩu Văn H1, sinh năm 1953 và bà Nông Thị V, sinh năm 1952; Anh, chị, em ruột: Có 07 anh chị em, bị cáo là thứ bảy; Vợ, con: Chưa có; Đảng, đoàn thể: Không.

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/02/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang (có mặt tại phiên tòa).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Seo Văn B1, sinh năm 1972.

Địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện C, tỉnh Tuyên Quang (Có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 14/02/2022 Seo Văn B, sinh năm 1994, trú tại thôn N, xã T, huyện C một mình điều khiển xe mô tô biển số 22B1-348.70 (xe của ông Seo Văn B1 bố đẻ của B) đến nhà Chẩu Văn T1, sinh năm 1997, trú tại thôn C1, xã H, huyện C chơi. Khi gặp T1, B rủ T1 góp tiền đi mua chất ma túy về sử dụng. T1 đồng ý sau đó B điều khiển xe mô tô chở T1 đi đến khu vực xã B Hành, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang để tìm mua chất ma túy. Trên đường đi cả hai thống nhất mỗi người góp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) để mua ma túy, T1 nhất trí và đưa cho B 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng). Khi đi đến khu vực cầu treo thuộc xã Bình Hành, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang, B và T1 nhìn thấy một người đàn ông không quen biết nhìn giống người nghiện ma túy đang đứng một mình ở cạnh đường. B điều khiển xe đến gần hỏi “Anh có hàng không bán em hai con?” ý hỏi người đàn ông bán cho B 02 gói Heroine, người đàn ông nói “Có, đưa tiền đây”. B đưa cho người đàn ông 02 tờ tiền Việt Nam, mỗi tờ có mệnh giá 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng), người đó cầm tiền và đưa cho B 02 gói nhỏ, có đặc điểm bên ngoài mỗi gói đều được gói B lớp giấy trắng có dòng kẻ, bên trong chứa chất bột vón cục màu trắng là Heroine. Mua được chất ma túy B cất vào túi áo khoác bên phải đang mặc rồi đi vào chỗ vắng người lấy 02 gói chất ma túy vừa mua được ra san thành 04 gói nhỏ (trong đó có 02 gói được gói B lớp giấy trắng có dòng kẻ, 02 gói được gói B lớp giấy bạc màu vàng). Sau đó B và T1 cùng sử dụng hết 01 gói B cách đốt hít vào cơ thể; 03 gói còn lại B cất vào túi khoác bên phải đang mặc và thống nhất về nhà cùng T1 sử dụng tiếp. Sau đó B điều khiển xe mô tô chở T1 về đến khu vực thôn Lăng Chua, xã T, huyện C thì gặp tổ công tác Công an huyện C đang làm nhiệm, nghi B và T1 có hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy nên đã mời hai người về trụ sở Công an xã T để làm việc và mời người chứng kiến cùng tham gia. Quá trình làm việc B tự giác giao nộp 03 gói ma túy còn lại có đặc điểm nêu trên (lúc này khoảng 16 giờ 00 phút cùng ngày). Tổ công tác Công an huyện C đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ cùng toàn bộ vật chứng.

Tại các biên bản xét nghiệm tìm chất ma túy ngày 14/02/2022 đối với Seo Văn B, Chẩu Văn T1, kết quả: (+) Dương tính có chất ma túy trong cơ thể.

Kết luận giám định số 245/GĐKTHS ngày 18/02/2022 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, kết luận: Mẫu vật gửi giám định thu giữ của Seo Văn B, Chẩu Văn T1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine; khối lượng 0,119g (Không phẩy một một chín gam).

Cáo trạng số: 39/CT-VKSCH ngày 31/5/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Tuyên Quang truy tố Seo Văn B, Chẩu Văn T1 về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Tuyên Quang giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh, điều luật đã nêu trong cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Đề nghị tuyên bố bị cáo Seo Văn B, Chẩu Văn T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt chính: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Seo Văn B từ 01 (một) năm 01 (một) tháng đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, bị cáo Chẩu Văn T1 từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo Seo Văn B, Chẩu Văn T1 bị bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 14/02/2022.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy không vì mục đích vụ lợi, không có tài sản riêng có giá trị, thuộc hộ nghèo nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự, tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ của Seo Văn B, Chẩu Văn T1, được niêm phong có chữ ký xác nhận và có dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang; Trả lại cho ông Seo Văn B1 chiếc xe mô tô nhãn hiệu SYM, loại xe ELEGANT, biển số 22B1-348.70, số khung 10MHCH018270, số máy CACE-H018270; 01 giấy chứng nhận xe mô tô, xe máy số 034966, đăng ký ngày 28/11/2012 (bản gốc).

Đối với người đàn ông bán Heroine cho Seo Văn B, Chẩu Văn T1 do không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để đề nghị xem xét.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Seo Văn B, Chẩu Văn T1, ngày 13/5/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính B hình thức Cảnh cáo do vậy không đề nghị xem xét.

Đề nghị buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo bản án đối với các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại các Điều 135, 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội.

Tại phiên tòa các bị cáo Seo Văn B, Chẩu Văn T1 đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu. Xác định đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, không có ý kiến tranh luận với luận tội của Viện kiểm sát. Nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức án cho các bị cáo. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đề nghị được nhận lại chiếc xe mô tô biển số 22B1-348.70; 01 giấy chứng nhận xe mô tô, xe máy số 034966, đăng ký ngày 28/11/2012 (bản gốc); không đề nghị các bị cáo bồi thường nên không yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã T1 hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã T1 hiện là hợp pháp, phù hợp theo quy định của pháp luật.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không yêu cầu người bào chữa cho các bị cáo.

Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa cũng như tại Cơ quan điều tra, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng truy tố. Lời khai của các bị cáo phù hợp các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 14/02/2022, tại khu vực thôn Lăng Chua, xã T, huyện C, tỉnh Tuyên Quang, Seo Văn B, sinh năm 1994, trú tại thôn N, xã T, huyện C, tỉnh Tuyên Quang và Chẩu Văn T1, sinh năm 1997, trú tại thôn C1, xã H, huyện C, tỉnh Tuyên Quang đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,119g (Không phẩy một một chín gam) chất ma túy, loại Heroine, mục đích sử dụng, đủ cơ sở xác định các bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Về tính chất, mức độ T1 hiện hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:

Ma túy là chất gây nghiện, có tác hại cho sức khỏe con người, là nguyên nhân dẫn đến các hành vi phạm tội, sa sút về kinh tế, nhưng các bị cáo đã đi ngược lại quy định Nhà nước, T1 hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, gây mất ổn định tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý T1 hiện, do đó phải chịu trách nhiệm đối với hành vi phạm tội của mình. Hành vi phạm tội của các bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây bất bình trong quần chúng nhân dân.

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo là hộ nghèo, dân tộc thiểu số sống tại vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo phạm tội có tính chất đồng phạm giản đơn, không có sự bàn bạc, trao đổi, phân công trước khi phạm tội. Các bị cáo Seo Văn B, Chẩu Văn T1 có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng các Điều 17, 58 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo.

Bị cáo Seo Văn B là người trực tiếp rủ bị cáo T1, mượn xe mô tô, điều khiển xe và giao dịch mua Heroine, trực tiếp cất giấu Heroin; bị cáo Chẩu Văn T1 là người góp tiền cho bị cáo B mua Hêrôin, nên mức độ phạm tội của bị cáo B cao hơn bị cáo T1.

Căn cứ vào tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm chung; nội dung buộc tội, đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa cho thấy các bị cáo T1 hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, do đó cần phải áp dụng mức án tương xứng với mức độ T1 hiện hành vi phạm tội, cần áp dụng khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, cải tạo, giáo dục các bị cáo thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời làm gương phòng ngừa tội phạm chung.

Về vật chứng vụ án: Số ma túy thu giữ của các bị cáo Seo Văn B, Chẩu Văn T1 xét thấy đây là vật Nhà nước cấm lưu hành, nên cần tịch thu tiêu hủy; Hoàn trả cho ông Seo Văn B1 chiếc xe mô tô nhãn hiệu SYM, loại xe ELEGANT, biển số 22B1-348.70, màu đỏ bạc, số khung 10MHCH018270, số máy CACE-H018270; 01 giấy chứng nhận xe mô tô, xe máy số 034966, đăng ký ngày 28/11/2012 do ông Seo Văn B1 không biết bị cáo B mượn xe sử dụng vào mục đích phạm tội theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo Seo Văn B, Chẩu Văn T1, quá trình điều tra không xác định được tên, tuổi, địa chỉ, do vậy không có căn cứ xử lý trong vụ án.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Seo Văn B, Chẩu Văn T1, Công an huyện C đã ra Quyết định xử phạt hành chính nên không xem xét.

Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy không vì mục đích vụ lợi, không có tài sản riêng có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Seo Văn B1 không đề nghị các bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 135, 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38, Điều 17, Điều 58, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Các Điều 106, 135, 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố các bị cáo Seo Văn B, Chẩu Văn T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt:

Xử phạt Seo Văn B 01 (một) năm 01 (một) tháng tù.

Xử phạt Chẩu Văn T1 01 (một) năm tù.

Thời hạn tù của các bị cáo Seo Văn B, Chẩu Văn T1 tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 14/02/2022.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ của các bị cáo Seo Văn B, Chẩu Văn T1 trong 01 bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt sau các mép dán có chữ ký xác nhận của các bị cáo Seo Văn B, Chẩu Văn T1, thành phần tham gia và 05 hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang. Mặt trước ghi tang vật vụ Seo Văn B, Chẩu Văn T1 giám định ngày 15/02/2022.

Trả lại cho ông Seo Văn B1 chiếc xe mô tô nhãn hiệu SYM, loại xe ELEGANT, biển số 22B1-348.70, màu đỏ bạc, số khung 10MHCH018270, số máy CACE-H018270; 01 giấy chứng nhận xe mô tô, xe máy số 034966 bản gốc.

Tình trạng vật chứng như biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 11/7/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C với Chi cục Thi hành án dân sự huyện C.

Về án phí: Các bị cáo Seo Văn B, Chẩu Văn T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 15/7/2022. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND huyện C;

- VKSND tỉnh Tuyên Quang;

- TAND tỉnh Tuyên Quang;

- CQCSĐT CA huyện C;

- CQTHAHS CA huyện C;

- Chi cục THADS huyện C;

- Bộ phận HSNV CA huyện C;

- Nhà tạm giữ CA huyện C;

- Sở Tư pháp;

Đào Thị Bích Ngọc

- Hồ sơ THAHS;

- Lưu hồ sơ, án văn.

Cỡ chữ