vanban.org

Bản án 47/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 20/09/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 20/09/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo M. T. S và giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm số: 44/2022/HS-ST, ngày 18 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.

Xử phạt bị cáo M. T. S 06 (sáu) tháng tù, về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo đi thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "M T S về tội đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo M. T. S và giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm số: 44/2022/HS-ST, ngày 18 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2022/HS-PT
Ngày: 20 - 9 -2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thành Tân.

Các Thẩm phán:

Bà Nguyễn Thị Tư

Ông Lê Nguyên Khoa

- Thư ký phiên tòa: bà Dương Thị Thu Nguyệt – Thư ký của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Quốc Vĩnh - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 90/2022/TLPT-HS, ngày 22 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo M. T. S, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 44/2022/HS-ST, ngày 18 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.

Bị cáo có kháng cáo:

M. T. S, sinh năm 1984, tại Vĩnh Long; Nơi cư trú: Số 85B, khóm T, phường T, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: tài xế; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông M. T. N (chết) và bà N. T. H; có vợ N. T. K. O (N. T. K. H) và 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

Đối với những người tham gia tố tụng khác Tòa án cấp phúc thẩm không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 14/01/2022, lực lượng Công an phường T, thành phố Vĩnh Long nhận được tin báo của quần chúng nhân dân tại căn nhà không số thuộc tổ 7, khóm T, phường T có hoạt động đánh bạc bằng hình thức ghi số đề. Theo đó lực lượng Công an đã bắt quả tang N. C. V đang dùng viết ghi các con số đề nên lập biên bản thu giữ toàn bộ phơi đề và các tài liệu có liên quan bao gồm: 04 phơi đề ngày 14/01/2022; 01 cây viết mực màu xanh; 01 máy tính hiệu Casio; 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen gắn sim 0981160387, 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng gắn sim số 0931055266 và 4.133.000đ.

Quá trình điều tra, V khai nhận bắt đầu mua bán số đề từ tháng 6/2021 cho đến khi bị bắt quả tang, hàng ngày những người muốn mua số đề của V thì liên lạc qua điện thoại với V qua số điện thoại 0981160387 và 0931055266 hoặc gặp trực tiếp V để mua, sau đó V sẽ tập hợp toàn bộ con số ra phơi đề và gửi cho người phụ nữ tên D. H ngụ thị trấn C, huyện C, tỉnh Đồng Tháp để được hưởng hoa hồng, trung bình mỗi ngày V thu lợi bất chính khoảng 200.000đ, tổng số tiền thu lợi bất chính tính từ khi V bán số đề là 36.000.000đ. Cách thức tính tiền ăn thua, V dựa vào kết quả xổ số kiến thiết của các tỉnh miền Nam và miền Bắc, trường hợp bao lô 02 con, nếu mua 1.000đ thì trúng 70.000đ; bao lô 03 con, nếu mua 1.000đ thì trúng 600.000đ, đá vòng 03 cặp số nếu mua 1.000đ thì trúng 600.000, nếu con bạc thua thì chung đủ tiền cho V.

Ngày 14/01/2022, V dựa vào kết quả của tỉnh Vĩnh Long, tỉnh Trà Vinh và tỉnh Bình Dương để tính tiền ăn thua với các con bạc, sau khi kiểm tra đối chiếu phơi đề Cơ quan điều tra đã xác định được ngày 14/01/2022 các con bạc đã mua tổng cộng 40 con số, tổng số tiền V dùng để đánh bạc là 14.230.000đ, những người tham gia đánh bạc với V bao gồm: N. N. X mua số đề với số tiền 540.000đ; H. T. T mua số đề với số tiền 625.000đ; N. T. T mua số đề với số tiền 1.335.000đ; N. T. T mua số đề với số tiền 360.000đ; N. T. T. N mua số đề với số tiền 215.000đ; C. C. T mua số đề của V khoảng bốn lần, mỗi lần khoảng 250.000đ; Đ. V. T mua số đề với số tiền 180.000đ; N. H. N. L mua số đề với số tiền 540.000đ.

Riêng đối với M. T. S mua số đề của Vũ nhiều lần, Cơ quan điều tra đã xác định được ngày 13/01/2022 S mua số đề các đài Miền Nam (An Giang, Tây Ninh, Bình Thuận) số tiền 10.575.000đ; các đài Miền Bắc thì S mua con số 37, 29,68 bao lô 50.000đ và đá vòng 10.000đ, tổng số tiền S dùng để mua số đề là 5.670.000đ, S trúng con 37 được 3.750.000đ nên tổng số tiền tham gia đánh bạc đài miền Bắc là 9.420.000đ. Ngày 14/01/2022, S mua số đề các đài Miền Nam (Vĩnh Long, Trà Vinh, Bình Dương) số tiền 5.250.000đ.

Đối với người tên D. H, do V không biết mặt, họ tên địa chỉ cụ thể, hàng ngày V gửi tiền cho nhân viên quán cà phê Điểm Hẹn địa chỉ ở phường T, thành phố Vĩnh Long, sau đó nhân viên sẽ giao tiền lại cho D. H nhưng khi V bị bắt thì quán cà phê đã nghỉ buôn bán, V không nhớ rõ người nhân viên đó là ai, do đó Cơ quan Điều tra không làm việc được, khi nào làm việc được sẽ xử lý sau.

Đối với số điện thoại thuê bao di động 0782814272 mà V khai là của D. H, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh được là của chị Cô T. T. T, sinh năm 1980 ngụ huyện T, tỉnh S đứng tên đăng ký nhưng chị T không sử dụng số điện thoại này khoảng 1 năm nay nên T không biết D. H là ai và không quen biết với N.C. V, cũng không liên quan đến hành vi mua bán số đề, do đó Cơ quan Điều tra không xử lý đối với T.

Đối với các đối tượng tham gia mua số đề thì có M. T. S là đủ định lượng nên Cơ quan điều tra đã tiến hành khởi tố bị can. Các đối tượng còn lại gồm: N. N. X, H. T. T, N. T. T, N. T. T, N. T. T. N, C. C. T, Đ. V. T, N. H. N. L do số tiền tham gia đánh bạc chưa đủ định lượng, các đối tượng không có tiền án, tiền sự nên Cơ quan Điều tra đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định pháp luật.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 44/2022/HS-ST ngày 18 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo M. T. S phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo M. T. S 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

Ngoài ra, cấp sơ thẩm còn quyết định xử phạt bị cáo N. C. V 09 tháng tù về tội “Đánh bạc”, quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 22/7/2022 bị cáo M. T. S có đơn kháng cáo nội dung: xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm Kiểm sát viên, bị cáo trình bày như sau:

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Qua nghiên cứu toàn bộ hồ sơ vụ án, qua quá trình xét hỏi công khai tại phiên tòa phúc thẩm ngày hôm nay thì nhận thấy: khoảng tháng 6/2021 đến đầu năm 2022, bị cáo V đã có hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền với hình thức bán số đề (thầu); cơ sở để xác định thắng thua là dựa vào kết quả xổ số kiến thiết của các tỉnh miền Nam, miền Bắc mở thưởng hàng ngày. Bị cáo S có tham gia mua số đề do bị cáo V bán các ngày: ngày 13/01/2022, số tiền 19.995.000đ và ngày 14/01/2022, số tiền 5.250.000đ. Do đó, cấp sơ thẩm đã khởi tố, truy tố xét xử bị cáo S theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, phạm tội với lỗi trực tiếp không những xâm phạm trực tiếp trật tự công cộng đã được pháp luật quy định và bảo vệ, mà còn mất an ninh trật tự tại địa phương; bị cáo tham gia đánh bạc 02 lần. Cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Mức án 06 tháng tù là không nặng so với hành vi phạm tội của bị cáo. Tình hình tội phạm về đánh bạc diễn biến phức tạp, nên việc cho bị cáo hưởng án treo không đáp ứng công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo, giữ nguyên án sơ thẩm.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo M. T. S 06 tháng tù, về tội: đánh bạc. Đơn kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận, nên buộc bị cáo phải nộp án phí phúc thẩm.

Bị cáo Sang trình bày: bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo vì bị cáo là lao động chính trong gia đình, bị cáo đang phải nuôi mẹ già và con nhỏ, xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo.

Bị cáo S nói lời sau cùng: bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo, vì hoàn cảnh gia đình khó khăn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo M. T. S khai nhận: bị cáo S có tham gia mua số đề do bị cáo V bán như sau: ngày 13/01/2022, số tiền 19.995.000đ và ngày 14/01/2022, số tiền 5.250.000đ. Do đó, cấp sơ thẩm quy kết bị cáo M. T. S phạm vào tội: đánh bạc, theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, nếp sống văn minh của xã hội. Đánh bạc là một tệ nạn xã hội bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng chỉ vì động cơ vụ lợi để có thu nhập bất chính, bị cáo đã xem thường pháp luật. Bị cáo phạm vào khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự có mức hình phạt từ 06 tháng đến 03 năm tù, nhưng cấp sơ thẩm chỉ xử phạt bị cáo 06 tháng tù, là mức thấp nhất của khung hình phạt, cấp sơ thẩm đã xem xét áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo, mức hình phạt đó là tương xứng, không nặng.

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh nói chung và thành phố Vĩnh Long nói riêng, tệ nạn đánh bạc đang diễn biến phức tạp, có chiều hướng không giảm, nên việc cấp sơ thẩm bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù là cơ sở. Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm thấy không có căn cứ, để chấp nhận kháng cáo vừa xin giảm hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo.

Số tiền bị cáo nộp sau khi xét xử sơ thẩm sẽ được xem xét xử lý trong giai đoạn thi hành án.

Xét lời đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát về việc không chấp nhận kháng cáo của bị cáo là có căn cứ pháp luật nên được chấp nhận.

Về án phí hình sự phúc thẩm: do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận, nên bị cáo phải nộp án phí hình sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tuyên không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo M. T. S và giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm số: 44/2022/HS-ST, ngày 18 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo M. T. S 06 (sáu) tháng tù, về tội “Đánh bạc”.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

Về án phí: căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo M. T. S phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ